Toàn tập phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

phan-tich-van-te-nghia-si-can-giuoc-cua-nguyen-dinh-chieu

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu

I. Tác giả, tác phẩm:

1. Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu:

Nguyễn Đình Chiểu là một chí sĩ yêu nước, nhà văn, nhà thơ lớn nhất của nền văn học thế kỉ XIX. Trọn cuộc đời dù bị mù mắt nhưng ông vẫn dành hết tinh thần và sức lực cổ vũ cho cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp.

Nguyễn Đình Chiểu (1822 -1888), Hiệu là Trọng Phủ, Hối Trai. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho, cha là Nguyễn Đình Huy, quê Thừa Thiên, mẹ là Trương Thị Thiệt, quê Gia Định.

Trước 1858: Nguyễn Đình Chiểu gặp nhiều bất hạnh. Năm 1833 cha mất chức. Năm 1849 mẹ mất phải bỏ thi về chịu tang. Công danh dở dang, bản thân mù lòa, vợ chưa cưới bội ước nhưng ông có một nghị lực phi thường, vượt lên bất hạnh, sống có ích. Ông mở trường dạy học, làm thuốc chữa bệnh cho dân, sáng tác thơ văn truyền dạy đạo đức, đạo lí nhân dân.

Sau 1858: Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thơ văn yêu nước chống Pháp, cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu tính kế giết giặc. Thực dân Pháp tìm mọi cách mua chuộc ông nhưng không được.

=> Cuộc đòi Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sáng về nghị lực, đạo đức và lòng yêu nước thương dân của một nhà nho, một nhà giáo, một nhà văn, một thầy thuốc chân chính, mẫu mực.

2. Sự nghiệp văn học:

Quan điếm sáng tác văn chương của Nguvễn Đình Chiếu:

– Dùng thơ văn để truyền bá đạo lí làm người, chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa:

“Chờ bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”

– Mỗi vần thơ phải ngụ ý khen chê công bằng:

“Học theo ngòi bút chí công
Trong thi cho ngụ tấm lòng Xuân Thu”

– Văn chương phải là những sáng tạo nghệ thuật có tính thẩm mĩ, để phát huy các giá trị tinh thần:

“Văn chương ai chẳng muốn nghe,
Phun châu nhả ngọc báu khoe tinh thân”

Tác phẩm:

Trước 1858: Truyện thơ “Lục Vân Tiên”, “Dương Từ Hà Mậu”.

Sau 1858: “Chạy giặc”, “ Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc”, “Văn tế Trương Định”, “Thơ điếu Phan Tòng”, “Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh”, “Ngư tiều y thuật vấn đáp”.

Nôi dung thơ văn:

Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu thể hiện lí tường đạo đức nhân nghĩa đậm đà tính nhân dân và truyền thống dân tộc; thể hiện lòng yêu nước thương dân, tái hiện chân thực một thời “khổ nhục nhưng vĩ đại” của dân tộc, ngợi ca các sĩ phu yêu nước, khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí cứu nước, biểu dương những tam gương anh hùng hi sinh vì nước, tố cáo tội ác của giặc.

Ngôn ngữ và cách diễn đạt bình dị, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân. Kết hợp tính cổ điển với tính dân gian, bút pháp lí tưởng hóa với tả thực, mang đậm đà bàn sắc Nam Bộ.

2. Tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

1. Hoàn cảnh sáng tác (sgk)

Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Sau khi chiếm xong Gia Định (đầu 1859) chúng tấn công các vùng lân cận. Đêm 16/12/1861, nghĩa quân tấn công vào đồn giặc ở Cần Giuộc – Long An gây tổn thất cho giặc nhưng cuối cùng cũng thất bại. Khoảng 21 nghĩa quân hi sinh. Theo yêu cầu của Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác bài văn tế này để điếu tế nghĩa binh tử trận.

2. Thể loại: văn tế

– Là một thể loại trữ tình thường được viết theo thể phú luật Đường.
– Bố cục 4 phần: lung khởi, thích thực, ai vãn, kết.
– Kiểu câu biền ngẫu gồm 5 dạng: tứ tự, bát tự, song quan, cách cú, gối hạc.

3. Chủ đề: Bài văn tế thể hiện vè đẹp hiên ngang, bi tráng mà giản dị của hình tượng nghĩa sĩ cần Giuộc và niềm cảm phục, tụ hào, xót thương vô hạn của tác giả đối với họ.

4. Bố cục: 4 phần

– Lung khởi (C 1,2) : khái quát bối cảnh bão táp của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân Cần Giuộc.
– Thích thực (C3-15): Kể lại những người nông dân mộ nghĩa với cuộc đời lao động, vất vả, nghèo khổ, tinh thần chiến đấu anh dũng của họ.
– Ai vãn(C16-28): Bày tỏ sự thương tiếc của tác giả và nhân dân đối với những người nghĩa sĩ.
– Kết (C29-30): Ca ngợi linh hồn bất diệt của các nghĩa tử.

II. Phân tích văn bản

1. Phần lung khởi (câu 1-2)

“Súng giặc đất . . . . trời tỏ “

Súng giặc đất rền >< Lòng dân trời tỏ

Sự xâm lăng ào ạt >< lòng yêu nước

Kẻ thù (phi nghĩa) >< ý chí chống giặc bừng lên mạnh mẽ (chính nghĩa).

Hai vế câu ngắn gọn dùng từ chỉ không gian rộng, đối lập. Câu văn đã tái hiện khung cảnh bão táp của thời đại.

“Mười năm công . . . vang như mỏ ” mười năm vỡ ruộng . .>< một trận đánh Tây

Nghệ thuật đối lập: Tuy là mất những tiếng…..mõ

Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân và sự hi sinh vẻ vang của nghĩa quân.

Khái quát bối cảnh bảo táp của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân- nghĩa sĩ.

a. Nguồn gốc xuất thân. 

Trước khi Pháp xâm lược: Họ là những người nông dân lam lũ, cùng khổ, chăm chi cần cù, sống an phận,hiền lành, xa lạ với chiến tranh. Họ “cui cút làm ăn, … nghèo khó” …chỉ biết… …chưa từng … quen làm … …chưa quen… Những người nông dân chân chất, hiền hậu có cuộc sống vất vả khó khăn với công việc đồng áng hoàn toàn xa lạ với việc binh cơ, vũ khí chiến đấu.

Khi Pháp xâm lược: Từ người “dân ấp dân lân” họ nhanh chóng trờ thành người nghĩa sĩ vì “mến nghĩa” mà “làm quân chiêu mộ”, tự nguyện đánh giặc với sự hăm hở, quyết tâm, với lòng yêu nước căm thù giặc sâu sắc, thể hiện ý thức trách nhiệm của họ đối với sự nghiệp cứu nước.

Trong trận công đồn: Dù chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, họ vẫn quả cảm, đạp lên đầu kẻ thù xốc tới, bất chấp hi sinh, trở thành bất tử với ý chí kiên cường và quan niệm sống đẹp

=> Đó là những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang.

b. Thái độ, tình cảm

Tác giả đã thay nhân dân bày tỏ những tình cảm gì đối với những người nghĩa sĩ.

Đối với nghĩa sĩ: Xúc động trước lẽ sông cao đẹp, không can tâm luồn cúi cùa những người nghĩa sĩ, xót thương cho sự hi sinh đồng thời biểu dương công trạng, đề cao cái chết vẻ vang của họ.

Đối với người thân của nghĩa sĩ: Thương cảm cho những cuộc đời không nơi nương tựa, chia sẻ sâu sắc với nỗi đau mất mát của họ.

Đối với đất nước: Đau xót lo lắng cho số phận của nhân dân, vận mệnh của đất nước.

C. Tinh thần chiến đấu: “Nào đợi ai đòi ai bắt ….ra tay bộ hổ; mười tám ban …chờ bây bố”

Tinh thần tự tự nguyện, hăng hái, sẵn sàng xả thân diệt thù (dù trang bị cho cuộc chiến hết sức thô sơ, hoàn toàn đối lập với vũ khí tối tân hiện đại của giặc). Nghệ thuật đối, dùng từ ngữ mang đậm sắc thái Nam Bộ, thái độ suy nghĩ của người nd được diễn tả một cách chân thực, mộc mạc thể hiện được sự chất phác của họ, sự căm ghét được nâng lên thành thái độ căm thù mãnh liệt, sẵn sàng đứng lên chiến đấu với kẻ thù

Nhịp văn nhanh, dồn dập làm nổi bật sự tương quan giữa nghĩa quân với kẻ thù: Vũ khí, lực lượng

d. Trang bị vũ khí:

-Thô sơ, thiếu thốn

-Không biết võ nghệ, không học binh thư.

e. Tinh thần chiến đấu của các nghĩa sĩ:

Đốt xong nhà dạy đạo; kẻ đâm ngang ….hổ; đạp cửa xông vào; chém rớt đầu quan hai họ Nghệ thuật đối, dùng nhiều từ chỉ hành động mạnh, dứt khoát, nhiều khẩu ngữ và từ ngữ mang tính địa phương Nam Bộ

Tạo nhịp điệu đoạn văn nhanh, mạnh, dứt khoát, sôi nổi góp phần tái hiện một trận công đồn của nghĩa quân Cần Giuộc khẩn trương, quyết liệt, sôi động và đầy hào hứng.

Bằng ngòi bút hiện thực kết hợp với chất trữ tình sâu lắng, ẩn chứa trong từng câu chữ là nỗi cảm thông, niềm kính nể, tự hào của tác giả. Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng được bức tượng đài bất tử về người nghĩa quân áo vải.

3. Ai vãn, thể hiện được lời than tiếc xót xa đối với người nghĩa sĩ

Cách diễn đạt – Nỗi xót thương của đối với người nghĩa sĩ:

+ ” Những lăm lòng nghĩa …/ Đâu biết.. . bỏ ”  Nỗi tiếc hận của người chiến sĩ phải hi sinh khi chí nguyện chưa thành. Sự thương tiếc sâu sắc đối với những tấm lòng, cuộc đời chiến đấu của nghĩa sĩ

+” Đoái sông Cần Giuộc . . . . . . lụy nhỏ “

Cảm xúc của t/g hoà vào cảm xúc của nhân dân khóc cho quê hương, sông núi. Nỗi đau trong lòng người, trong lòng đất trời + ” Đau đớn bấy  Mẹ già ngồi khóc trẻ Vợ yếu chạy tìm . .. . trước ngõ “

Khóc cho nỗi xót xa của những người thân khi mất đi nhhững người thân yêu của mình. Cảm xúc chân thành, giọng văn thống thiết, ngôn ngữ giàu giá trị gợi cảm, gợi hình đã nói lên được hoàn cảnh đáng thương của những người thân và tấm lòng của tác giả đối với các nghĩa sĩ , đối với gia đình các nghĩa sĩ.

Cụ đồ Chiểu nhân danh lịch sử, nhân danh vận nước mà khóc thương cho những người anh hùng, xả thân cho Tổ quốc. Tiếng khóc ấy có tầm vóc sử thi, tầm vóc thời đại.

Niềm cảm phục tự hào: Những người nghĩa sĩ đã quên mình cho quê hương vì một lẽ sống thiêng liêng cao quý: thà chết vinh còn hơn sống nhục ( câu 19,20,22,23 ). Đây cũng là lời an ủi đầy tri ân với người đã khuất , lời giáo huấn đề cao tinh thần yêu nước, bất hợp tác với giặc dành cho người sống.

4. Biểu dương công trạng của các nghĩa sĩ: Nghìn năm tiếc rỡ ; …tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ; Sống đánh giặc … đền công đó (câu 26, 28 )

Ca ngợi công đức của người nghĩa sĩ, thể hiện sự tôn vinh đối với họ và nêu cao chí diệt thù.

Tác giả đã thay mặt nhân dân khóc thương và biểu dương công trạng người nghĩa sĩ. Tiếng khóc không chỉ gợi nỗi xót thương vô vàn đối với người nghĩa sĩ mà còn làm tăng lòng căm thù và ý chí diệt thù ở những người đang sống.

5. Nghệ thuật:

– Nghệ thuật xây dựng hỉnh tượng nhân vật đặc sắc.

– Kết hợp bút pháp hiện thực và trữ tình, cảm xúc chân thành mành liệt.

– Ngôn ngữ bình dị, trong sáng, sinh động, vừa dân dã vừa trang trọng, đậm sắc thái Nam Bộ.

6. Ý nghĩa tác phẩm:

– Hình tượng người nghĩa sĩ cần Giuộc tiêu biểu cho người nông dân Nam bộ yêu nước trong những năm đầu chống Pháp.

– Với văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc, hình tượng người nông dân yêu nước đã đi vào văn học thành văn với tư thế hiên ngang, và vẻ đẹp vổn có, xứng đáng với vai trò quan trọng của họ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

– Tác phẩm là khúc ca bi tráng biểu hiện tấm lòng ngưỡng mộ, tiếc thương của cả dân tộc với người nông dân yêu nước.

https://duongleteach.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.