Thuyết minh về hình ảnh cây tre trong đời sống con người Việt Nam

 Cây tre trong đời sống làng quê Việt Nam

  • Mở bài:     

“Tre xanh xanh tự bao giờ
 Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”

(Tre xanh-Nguyễn Duy)

Đã từ rất lâu rồi cây tre là người bạn thân thiết trong đời sống của con người Việt Nam. Tre có mặt ở khắp mọi miền đất nước. Từ những bụi tre ven các làng xóm, ven đồng, ven biển đến những rừng tre bạt ngàn miền sơn cước. Khắp mọi nẻo đường Việt Nam đâu đâu cũng thấy bờ tre xanh phủ bóng.(Giới thiệu Cây tre Việt Nam)

  • Thân bài:

Nguồn gốc:

Tre thuộc họ cỏ, trong lớp thực vật một lá mầm. Nhưng đặc điểm hình thái của thân tre không giống các loài cỏ, cũng không giống các thân cây gỗ. Tre có mặt ở nhiều nước Châu á như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Philippines, Indonesia,…

Từ xa xưa, cây tre cũng gắn bó với người nông dân Việt Nam từ nghìn năm rồi. Ban đầu tre là một loài cây hoang dại. Qua thời gian, con người nhận thấy những giá trị hữu ích của nó như che bóng mát, làm nhà cửa, lạt buộc, và các vật dụng khác. Với đặc điểm vừa cứng, vừa dễ troongf lại rất dẻo dai, cây tre nhanh chóng trở thành cây trồng trong vườn nhà.

Phân loại các loài tre:

Tre có 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới. Danh các loài tre nứa hiện có của Việt Nam ban đầu đã đưa ra danh sách gồm 194 loài của 26 chi tre trúc Việt Nam. Phần lớn trong số đó là chưa có tên. Một số loài cây thuộc họ tre thường gặp như: tre, trúc, mai, giang, vầu, nứa, lồ ô, le, sặc, luồng,…

Đặc điểm hình dáng, sinh thái:

Một cây tre trưởng thành có thể cao đến 10 mét. Tuy nhiên, không phải loài tre nào cũng có chiều cao ấy. Một vài loại tre phát triển thấp lùm như bụi cây thấp. Điển hình nhất là loại le lùm phát triển nhiều ở Các vùng đồi núi cao. Tre thường mọc thành cụm hoặc thành hàng dài để nương tựa vào nhau, không bị xô ngã bởi gió.

Dưới gốc cây là thân ngầm; trên mặt đất là thân khí sinh măng, bẹ mo, cành và lá. Trên thân ngầm thường mọc lên các chồi măng. Măng tre là cây con phát triển. Bên trong mềm, bên ngoài được bọc một lớp áo vỏ cứng. Lớp vỏ ấy khi bóc ra được gọi là mo. Chính thân ngầm duy trì sự vững chắc của cậy tre nhờ bộ rễ khỏe khắn.

Rễ cây tre thuộc loại rễ chùm, thường ăn cạn trên mặt đất. Rễ tre cũng ăn sâu vào lòng đất tìm đến các mạch nước ngầm lấy nước nuôi cây.

Đốt tre đặc mang chồi, có vòng mo và vòng đốt. Lóng và đốt khi non được mo thân che phủ. Khi già mo rụng đi, để lại dấu vết của mo thân, đó chính là vòng mo.

Thân tre là phần quan trọng nhất của cây tre bao gồm: gốc thân và thân. Gốc thân ở giữa phần thân ngầm và thân chính, thường đăc và rất cứng. Phần thân tre trên mặt đất có thể cao đến 1-20m, đường kính 1-25cm, thường hình tròn, nhưng cũng có thể có nhiều hình dạng rất đặc biệòa

Thân tre có rất nhiều loại: ống, rãnh, vuông, dẹt, chuỗi hạt, đốt lệch, thân đặc hoặc rỗng. Trên thân tre tại các mấu mắt phát triển các cành tre. Cành tre nhỏ, ngắn, có gai hoặc không có gai. Cành hướng về phía trên. Mỗi mắt mọc nhiều cành, mỗi cành có nhánh, mỗi nhánh đều mang lá.

Lá và bẹ lá là cơ quan quan trọng của quá trình quang hợp. Lá do bẹ lá và phiến lá tạo thành, lá không có lông tơ, có 3-5 đôi gân bên song song. Lá tre có phiến lá, cuống lá, tai lái, lưới lá và bẹ lá. Mo tre mọc lên vòng mo, nó chính lá phiến lá trên thân. Mo thường sớm rụng, nhưng có loại mo chỉ tách ra mà không rụng, chúng tồn tại trên thân mấy năm.

Tre cũng là một loại thực vật có hoa, nhưng chỉ nở hoa một lần duy nhất vào lúc cuối đời. Thường thì tre có chu kỳ ra hoa khoảng 30-50 năm hay dài hơn nữa. Hoa gọi là tre khuy. Hoa tre có mùi hương hơi nồng và có màu vàng nhạt như màu đất.. Hoa dạng bông, màu vàng nhạt, nhị hoa mang bao phấn màu vàng tươi. Quả dạng quả dĩnh (thóc), nhỏ; quả rụng xuống mọc thành cây con. Thật hiếm khi ta thấy tre ra hoa. Mặt khác, hoa tre màu khắng, lại khá nhỏ nên khó trông thấy.

Tre thường trồng ở các vùng đồng bằng, nơi có độ ẩm cao và nhiều nước. Ta thường thấy lũy tre ở đầu làng bờ ao, bờ sông, lối đi,…Tre cũng phát triển tốt ở các vùng núi cao hay vùng đất cằn cõi, bạc màu. Có thể nói tre là loài cây có khả năng thích nghi cao trong mọi điều kiện.

Tre là loại cây ưa sáng, ít chịu dưới bóng râm. Cây tre phát triển mạnh vào mùa mưa. Măng tre thường phát triển 2 đợt trong năm: đợt từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 8 đến tháng 10. Măng tre có tốc độ phát triển rất nhanh. Chỉ sau một đêm có thể cao thêm hơn 1 mét. Đó cũng là tốc độ phát triển nhanh nhất được ghi nhận trong các loài thực vật trên trái đất.

Vai trò của cây tre trong đời sống lao động con người Việt Nam:

Tre đi vào cuộc sống trở thành các sản phẩm hữu ích phục vụ cho con người, Có thể nói từ xa xưa, con người đã biết rõ những tính năng ưu việt của nó, từ đó tận dụng một cách hiệu quả. Tre trở thành cây nguyên liệu chủ đạo phục vụ đời sống con người.

Trong xây dựng, tre dúng để làm cột, kèo, rường nhà. Lạt tre dẻo mềm, bền chặt là loại dây cột phổ biến nhất trước dây. Cây tre cũng còn dùng để làm cầu, sào, thuyền, hàng rào rất bền chắt.

Cây tre dùng làm các vật dụng sản xuất như cày cuốc, thúng mủng, nong, nia… hay làm các đồ vật như bàn ghế tre, chõng tre, giường tre…

Gốc tre, thân tre còn dùng để làm các đồ vật mĩ nghệ độc đáo, bắt mắt. Việc đan lát bằng nan tre từ lâu đã có mặt trong đời sống con người. Với đôi bàn tay khéo léo và khả năng sáng tạo tuyện vời của người nông dân, đã biến những thanh nan tre mềm, mỏng bình thường thành những vật trang trí thực sự hữu ích và đầy tính nghệ thuật, tô điểm cho cuộc sống thêm những sắc màu tươi xinh.

Trong công nghiệp: cây tre dùng để sản xuất ra giấy, chất đốt diesel có thể lấy từ cây tre…

Trong nông nghiệp: cây tre làm ổn định đất trồng và bón phân cho đất, tre làm tăng độ phì nhiêu của đất, bảo vệ đất không bị xói mòn, rửa trôi, bạc màu,… Với bộ rễ đồ sộ, vươn xa và chắc chắn, tre còn được trồng ở bờ sông, bờ suối, ao hồ để ngăn sạt lở. Tre trồng ở vùng đất khô cằn có vai trò cải tạo đất rất tốt. 

Trong y học: lá tre dùng để chữa một số bệnh như bệnh ngứa, bệnh chảy máu, bệnh hen suyễn…Một vài nước trên thế giới đã dùng cây tre chữa bệnh rất hiệu quả. Ở Việt Nam, lá tre dùng để xông hơi chữa cảm mạo, trà lá tre là một thức uống độc đáo và rất tốt cho sức khỏe. Nước từ ngọn tre non có chức năng chữa beengj phù thủng rất hiệu nghiệm.

Trong thực phẩm: búp non của cây tre có thể ăn được gọi là măng. Hằng năm, lượng măng non được khai thác trên cả nước là rất lớn. Tuy không chứ nhiều chất dinh dưỡng nhưng món ăn từ măng làm cho bữa ăn thêm ngon miệng. Ống nứa tre non là dụng cụ nấu cơm lam độc đáo của người vùng cao. Cơm lam ống nứa có vị thơm đặc trưng, là một phẩm vật quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng con người.

Trong âm nhạc: cây tre dùng để làm ra các nhạc cụ âm nhạc như: đàn tơ-rưng, sáo, đàn gió…Sáo trúc bao năm đã làm say mê lòng người với âm thanh trong trẻo, dìu dặt, lanh lảnh trong gió trong mây, vang vang khắp núi đồi.

Cây tre đối với đời sống tinh thần và văn hóa dân tộc Việt:

Trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả – được xem như là biểu tượng của người Việt, đất Việt, của nền văn hóa thuần nông, bình dị. Tre sống chan hòa, gần gũi bên mái hiên, trước sân nhà, hay bến nước. Tre phủ che bóng mát lên đời và sẳn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ cuộc sống có người có tre.

Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống. Sự gắn bó mật thiết và chân tình ấy, từ lâu, cây tre được xem là người bạn thân thiết của người nông dân Việt Nam.

Ở đâu có làng quê là ở đó có cây tre rợp bóng. Dù có bao cuộc đổi thây, dù đi đâu, về đâu, lúc nào con người cũng mang theo cây tre trong cuộc sống của mình. Bởi thế, cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà, trở thành biểu tượng cho tinh thần kiên trung, bất khuất của dân tộc.

Hình ảnh Thánh Gióng nhổ búi tre đánh giặc, Ngô Quyền dựng cọc tre tiêu diệt quân Nam Hán, chiếc gậy tầm vong đuổi quân thù trở thành biểu tượng cho ý chí diệt thù, lòng yêu nước sắc son, ý chí quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược của nhân dân ta. Tre cằn cỏi vươn lên từng ngày, vượt qua là biểu tượng lẫm liệt của tinh thần bất khuất, thà chết chứ không chịu bị khuất phục.

Cây tre còn đi sâu vào đời sống tâm linh con người, tạo nên nét đẹp hồn hậu, bình dị mà thắm được nghĩa tình của làng quê Việt Nam. Cây nêu ngày tết với ngọn tre vươn cao xua đuổi tà ma, bảo vệ con người. Chõng tre, giường tre kẽo kẹt trưa hè ru giấc nồng say. Đòn gánh tre theo mẹ nặng gánh đường đời, tảo tần, gian khổ. Cây tre nương tựa dìu dắt nhau qua mưa bão, rễ tre cần mẫn bám sâu vào lòng đất thách thức giông tố, thân tre gầy guộc mà bền chắc là biểu tượng cho tấm lòng thủy chung bám đất bám làng của người Việt Nam ta từ muôn đời nay.

  • Kết bài:

Có thể nói không có loài cây nào sống gần gũi và thân thiết với con người như loài tre. Cũng bởi trên bản thân cây tre mang đầy đủ những đặc tính ưu việt mà con người cần có. Từ những việc nhỏ, cho đến việc lớn, từ những dụng cụ đơn sơ hay những công trình vĩ đại, cây tre đều góp mình hưu ích. Ngày nay, dù cuộc sống hiện đại, nhiều vật liệu mới đã thay thế cây tre nhưng cây tre vẫn còn tiếp tục hiện diện, khẳng định vai trò tuyệt vời của nó qua mọi thời đại.

4 Trackbacks / Pingbacks

  1. Thuyết minh cây phượng vĩ – Dương Lê
  2. Thuyết minh cây sen hồng - Dương Lê
  3. Thuyết minh cây lúa nước hay nhất - Dương Lê
  4. Thuyết minh chiếc quạt nan lớp 9 – Dương Lê

Leave a Reply

Your email address will not be published.