Thuyết minh kiệt tác Truyện Kiều và thiên tài văn học Nguyễn Du

thuyet-minh-truyen-kieu-cua-thien-tai-nguyen-du
  • Mở bài:

Truyện Kiều là một kiệt tác văn học của thiên tài Nguyễn Du và của nền văn học Việt Nam từ cổ chí kim. Không những có giá trị về văn học, truyện Kiều đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của dân tộc ta, trở thành cách nghĩ, cách nói, cách sống và lối ứng xử mang tính chuẩn mực. Bởi thế mà các hoạt động văn hóa lẩy Kiềutrò Kiềuvịnh Kiềutranh Kiềubói Kiều… đã phát sinh trong cộng đồng người Việt. Hàng trăm năm qua, Truyện Kiều vẫn luôn tồn tại trong đời sống của dân tộc Việt, khẳng định mạnh mẽ tài năng và tấm lòng của Nguyễn Du

  • Thân bài:

Thiên tài Nguyễn Du:

Thời đại:

Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội, xã hội phong kiến Việt Nam khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dẫn khởi nghĩa nổ ra liên tục. Đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã “một phen thay đổi sơn hà”. Nhưng triều đại Tây Sơn ngắn ngủi, triều Nguyễn lên thay. Những thay đổi kinh thiên động địa ấy tác động mạnh tới nhân thức, tình cảm và tư tưởng của Nguyễn Du để ông hướng ngòi bút của mình vào hiện thực, vào “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” với tấm lòng nhân đạo cao cả.

Gia đình:

Nguyễn Du sinh ra tại đất Hà Tĩnh – một vùng đất địa linh nhân kiệt. Gia đình Nguyễn Du là gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống văn chương. Cha là Nguyễn Nghiễm, từng là tể tướng trong triều đình. Mẹ là người phụ nữ hát hay và thuộc nhiều làn điệu dân ca. Địa vị Nguyễn Du thuộc hàng cao quý trong xã hội. Thế nhưng gia đình ông sớm bị sa sút. Nhà thơ mồ côi cha năm 9 tuổi, mồ côi mẹ năm 12 tuổi. Cuộc đời sớm gánh chịu nhiều thiệt thòi. Hoàn cảnh đó cũng tác động lớn đến cuộc đời Nguyễn Du.

Cuộc đời:

Nguyễn Du có năng khiếu văn học bẩm sinh, ham học. Lúc nhỏ, ông được học tập cùng các công nương quý tử nên có kiến thức khá sâu sắc. Bởi thế, ông có hiểu biết sâu rộng và từng trải, có vốn sống phong phú với nhiều năm lưu lạc. Ông từng đi sang sứ Trung Quốc, qua nhiều vùng đất Trung Hoa rộng lớn với nền văn hóa rực rỡ. Tất cả những điểu đó đều có ảnh hưởng tới sáng tác của nhà thơ.

Thời thế loạn lạc, bản thân lưu ẩn nhiều nơi khiến Nguyễn Du chứng kiến, từng trải và thấu hiểu nỗi khổ của con người.Kế thừa truyền thống gia tộc, Nguyễn Du làm quan nhà Lê, rồi đến nhà Nguyễn nhưng là người bất đắc chí. làm quan chỉ là lựa chọn bất đắc dĩ mà thôi. Ông nhận thấy cái hủ bại của nhà lê, cái bất nhân của nhà Nguyễn và sự tiến bộ của nhà Tây Sơn và anh em Quang Trung Nguyễn Huệ. Nhưng với hệ tư tưởng trung quân không cho phép ông có những hành động hợp thời thế. Tất cả những tâm tu dồng nén ông gửi gắm vào thơ ca với những lời lẽ thống thiết vô cùng.

Nguyễn Du là con người có trái tim giàu lòng yêu thương. Chính nhà thơ đã từng viết trong Truyện Kiều “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Mộng Liên Đường Chủ Nhân trong lời Tựa Truyện Kiều cũng đề cao tấm lòng của Nguyễn Du với con người, với cuộc đời: “lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn đến đứt ruột…”. Nếu không phải có con mắt trong thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy.

Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du:

Nguyễn Du để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ. Không những phong phú về số bài, chủ đề mà thể loại cũng hết sức đa dạng. Ông sáng tác nhiều tác phẩm Hán và chữ Nôm.

Qua các tác phẩm của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm. Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành… nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt hơn cả, là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà đỉnh cao là Truyện Kiều, đã cho thấy, thể thơ lục bát có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn trong thể loại truyện thơ.

Về thơ chữ Hán, Nguyễn Du có 3 tập thơ gồm 249 bài:

– Thanh Hiên thi tập

– Nam trung tạp ngâm

– Bắc hành tạp lục

Tác phẩm chữ Nôm có Văn chiêu hồn, xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh thường gọi là Truyện Kiều.

Đánh giá: Tác phẩm Truyện Kiều và thiên tài Nguyễn Du có vị trí đặc biệt trong lịch sử và văn học Việt Nam. Trong mắt những người nước ngoài, họ coi ông là một vị thánh của nền thơ ca Việt Nam. Nguyễn Du dược so sánh như một Đỗ Phủ, một Tagor của Việt Nam. Họ quý trọng ông vì ông đã góp công vào nền thơ ca thế giới. Ông là một nhân vật kiệt xuất của thơ ca Việt Nam

Kiệt tác Truyện Kiều:

Nguồn gốc và sự sáng tạo:

Xuất xứ Truyện Kiều:

Viết Truyện Kiều Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Tuy nhiên phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định thành công của tác phẩm.  Từ câu chuyện tình ở Trung Quốc đời Minh biến thành một khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh (vượt xa Thanh Tâm Tài Nhân ở tinh thần nhân đạo).

Hoàn cảnh: Sáng tác vào thế kỷ XIX (1805-1809)

Thể loại: Truyên Nôm: Loại truyện thơ viết bằng chữ Nôm. Truyện có khi được viết bằng thể thơ lục bát. Có hai loại truyện Nôm: truyện Nôm bình dân hầu hết không có tên tác giả, được viết trên cơ sở dân gian; truyện Nôm bác học phần nhiều có tên tác giả, được viết trên cơ sở cốt truyện có sẵn của văn học Trung Quốc hoặc do tác giả sáng tạo ra. Truyện Nôm phát triễn mạnh mẽ nhất ở nữa cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX.

Ý nghĩa nhan đề: Truyện Kiều có tên chữ Hán và tên chữ Nôm. Tên chữ Hán là Đoạn trường tân thanh: Tiếng kêu với nỗi đau thương đứt ruột: bộc lộ chủ đề tác phẩm (tiếng kêu cứu cho số phận người phụ nữ). Tên chữ Nôm là Truyện Kiều: lấy từ tên nhân vật chính-Thúy Kiều (do nhân dân đặt).

Tóm tắt Truyện Kiều:

Phần thư nhất: Gặp gỡ và đính ước.

Vương Thúy Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng một gia đình trung lưu lương thiện, sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che” bên cạnh cha mẹ và hai em là Thúy Vân, Vương Quan. Trong buôi du xuân nhân tiết Thanh minh, Kiều gặp chàng Kim Trọng “phong tư tài mạo tót vời”. Giữa hai người chớm nở một mối tình đẹp. Kim Trọng dọn đến ở trọ cạnh nhà Thúy Kiều. Nhân trả chiếc thoa rơi, Kim Trọng gặp Kiều bày tỏ tâm tình. Hai người chủ động, tự do đính ước với nhau.

Phần thứ hai: Gia biến và lưu lực

Trong khi Kim Trọng về Liêu Dương chịu tang chú, gia đình Kiều mắc oan. Kiều nhờ Vân trả nghĩa cho Kim Trọng còn nàng thì bán than mình chuộc cha. Nàng bị bòn người buôn là Mã Giám Sinh, Tú bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh. Sau đó, nàng được Thúc Sinh một khách làng chơi hào phong cứu vớt khỏi cuộc đời kỹ nữ. Nhưng rồi nàng lại bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư ghen tuông, đầy đọa. Kiều phải trốn đến nương nhờ cửa Phật. Sư Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà một kẻ buôn người như Tú Bà, nên Kiều lần thứ hai rơi vào lầu xanh. Tại đây, nàng gặp Từ Hải, một anh hungf đội trời đạp đất. Từ Hải lấy Kiều, giúp nàng báo ân, báo oán. Do mắc lừa quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến. Từ Hải bị giết. Kiều phải hầu đàn hầu rượu Hồ Tôn Hiến rồi ép gã cho viên thổ quan. Đau đớn, tủi nhục, nàng trẫm mình ở song Tiền Đường và được sư Giác Duyên cứu, lần thứ hai Kiều nương nhờ cửa Phật.

Phần thứ ba: Đoàn tụ

Sau nửa năm về chịu tang chú, Kim Trọng trở lại tìm Kiều. Hay tin gia đình Kiều gặp tai biến và nàng phải bán mình chuộc cha, chàng vô cùng đau đớn. Tuy kết duyên với Thúy Vân nhưng chàng vẫn không thể quên mối tình đầu say đắm. Chàng quết cất công lặn lội đi tìm Kiều. Nhờ gặp được sư Giác Duyên mà Kim, Kiều tìm được nhau, gia đình đoàn tụ. Chiều theo ý mọi người, Thúy Kiều nối lại duyên cũ với Kim Trọng nhưng cả hai cùng nguyện ước “Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”.

Giá trị tác phẩm:

Giá trị nội dung:

Giá trị hiện thực:

1. Truyện Kiều phản ánh bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và thế lực hác ám chà đạp lên quyền sống của con người.

Bọn quan lại: Viên quan xử kiện vụ án Vương Ông vì tiền chứ không vì lẽ phải. Quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến là kẻ bất tài, nham hiểm, bỉ ổi và trân tráo.

Các thế lực hắc ám đày đọa con người: Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh… là những kẻ tán tận lương tâm. Vì tiền, chúng sẵn sang chà đạp lên nhân phẩm và số phận con người lương thiện

Tác giả lên tiếng tố cáo bộ mặt xấu xa bỉ bổi của chúng.

2. Truyện Kiều phơi bày nỗi đau của những con người bị áp bức, đặc biệt là người phụ nữ.

Vương Ông bị mắc oan, cha con vị đánh đập dã man, gia đình tan nát. Đạm Tiên, Thúy Kiều là những người phụ nữ đẹp, tài năng, vậy mà kẻ thì chết trẻ, người thì đọa đày, lưu lạc suốt 15 năm.

Truyện Kiều là tiếng kêu thương của những người lương thiện bị áp bức, đọa đày.

Giá trị nhân đạo:

Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du bộc lộ niềm thương cảm sâu sắc trước những khổ đau của con người.

Ông xót thương cho Thúy Kiều – một người con gái tài sắc mà lâm vào cảnh bị đọa đày “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. Truyện Kiều là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất cao đẹp của con người như nhan sắc, tài hoa, trí dung, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, vị tha…

Ông trân trọng đề cao vẻ đẹp, ước mơ và khao khát chân chính của con người như về tình yêu, hạnh phúc, công lý, tự do…

Ông còn tố cáo các thế lực tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của những con người lương thiện, khiến họ khổ sở, điêu đứng.

Phải là người giàu lòng yêu thương, biết trân trọng và đặt niềm tin vào con người Nguyễn Du mới sáng tạo nên Truyện Kiều với giá trị nhân đạo lớn lao như thế.

Giá trị nghệ thuật:

Truyện Kiều được coi là đỉnh cao nghệ thuật của Nguyễn Du. Ngôn ngữ của truyện Kiều là ngôn ngữ văn học hết sưc sức giàu và đẹp, đạt đến đỉnh cao ngôn ngữ nghệ thuật. Tiếng Việt trong Truyện Kiều không chỉ có chức năng biểu đạt (phản ánh), biểu cảm (bộc lộ cảm xúc) mà còn có chức năng thẩm mĩ (vẻ đẹp của ngôn từ). Với Truyện Kiều, nghệ thuật tự sự đã có bước phát triễn vượt bậc. Thành công ở thể loại tự sự, có nhiều cách tân sáng tạo, phát triển vượt bậc trong ngôn ngữ và thể thơ truyền thống.

Về nghệ thuật xây dựng nhân vật: Khắc họa nhân vật qua phương thức tự sự, miêu tả chỉ bằng vài nét chấm phá mỗi nhân vật trong Truyện Kiều hiện lên như một chân dung sống động. Cách xây dựng nhân vật chính diện thường được xây dựng theo lối lý tưởng hóa, được miêu tả bằng những biện pháp ước lệ, nhưng rất sinh động. Nhân vật phản diện của Nguyễn Du được khắc họa theo lối hiện thực hóa, bằng bút pháp tả thực, cụ thể và rất hiện thực (miêu tả qua ngoại hình, ngôn ngữ, hành động…của nhân vật).

Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên đa dạng, bên cạnh bức tranh thiên nhiên chân thực sinh động (Cảnh ngày xuân), có những bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc (Kiều ở lầu Ngưng Bích).

  • Kết bài:

Với kỳ công sáng tạo, Truyện Kiều của nhà thơ đã trở thành viên ngọc vô giá của thể loại truyện thơ nói riêng và của nền văn học dân tộc Việt nói chung. Chính tấm lòng yêu thương con người cộng với hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử đã đưa tinh thần nhân đạo của thời đại lên đỉnh cao mới, chấp cánh cho tác giả tạo nên một giấc mơ hào hứng, cao cả nhuốm màu sắc lãng mạn. Có thể nói Truyện Kiều của Nguyễn Du là kết tinh sâu sắc của thời đại, là thành quả tất yếu của lịch sư. Với truyện Kiều, tên tuổi của Nguyễn Du đứng ở bậc vĩ nhân, là tác giả văn học vĩ đại của thế giới.

duongleteach.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.