Phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội

Chuyên đề: Phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội

A. KHÁI QUÁT CHUNG

Theo hệ thống lí luận của phương pháp dạy học hiện đại, người ta đã xác định rằng tri thức có ba cấp độ:

* Tri thức khái niệm (Tri thức căn bản ).
* Tri thức tư liệu.
* Tri thức phương pháp.

Trong đó, tri thức phương pháp mang tính khả biến và tính vận dụng cao nhất trong các hệ thống tri thức đã được xác lập.

Phương pháp là hệ thống cách thức chung nhất để thực hiện nhằm đạt đến mục tiêu. Phương pháp chính là một bộ phận cấu thành nên tri thức mỗi con người. Phương pháp có vai trò quan trọng khi vận dụng tri thức vào thực tiễn. Vì thế, Các Mác đã từng nói: “Đặc trưng của mỗi thời đại không phải là sản phẩm làm ra mà phương thức làm ra sản phẩm ấy”.

Phương pháp làm bài văn Nghị luận xã hội là một nội dung thuộc phân môn Tập Làm Văn trong bộ môn Ngữ Văn được giảng dạy ở cấp THCS và THPT. Kiểu bài làm văn nghị luận xã hội nhằm thực hiện chức năng cung cấp tri thức phương pháp nghị luận, tri thức đời sống thực tiễn xã hội, hình thành kĩ năng quan sát, kĩ năng phân tích, kĩ năng lập luận đồng thời khai phóng tư duy và phát huy tính tích cực, chủ động vận dụng các năng lực cho học sinh.

Nắm vững phương pháp Nghị luận xã hội giúp học sinh khám phá sâu sắc các tri thức mang tính quy luật trong đời sống xã hội,. Từ đó phát huy tính tích cực và tự do sáng tạo trong giao tiếp.

“Mỗi tiến bộ về phương pháp cho ta tầm nhìn xa thêm một chân trời mới” (Páp lốp).

B. CƠ SỞ KHOA HỌC

1. Cơ sở lí luận

Làm văn ở nhà trường THCS và THPT hiện nay không còn là một môn học độc lập như trước đây nữa. Theo quan điểm tích hợp, chúng trở thành một bộ phận của môn Ngữ văn, cùng hướng tới mục tiêu chung nhất giáo dục tri thức xã hội toàn diện và rèn luyện kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh. Sự thay đổi đó kéo theo một số nét đổi mới về phương pháp giảng dạy phân môn này.

Cũng bởi thế, khi dạy học Làm văn, một mặt vẫn phải tuân thủ những vấn đề lí luận dạy học đặc thù của phân môn. Mặt khác, phải biết cách phối hợp các tri thức, kĩ năng gần gũi của ba bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn để thực hiện mục tiêu chung của môn học Ngữ văn.

Về triết học, dạy học Làm văn và dạy học kiểu bài Nghị luận xã hội vận dung các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật chỉ ra hình thức chung nhất của sự vận động, phát triển của thế giới vật chất và nhận thức của con người về thế giới đó. Đồng thời các quy luật này cũng tạo cơ sở cho phương pháp chung nhất của tư duy khi tiến hành xác lập một văn bản hoàn chỉnh.

Dạy học Làm văn và dạy học kiểu bài Nghị luận xã hội cũng vận dụng các đặc trưng của Ngữ dụng học, Tâm lí học trong việc tiếp nhận và vận dụng ngôn ngữ trong giao tiếp.

Dạy học Làm văn và dạy học kiểu bài Nghị luận xã hội vận dụng các nguyên tắc và mục tiêu của Phương pháp dạy học văn để hình thành hệ thống phương pháp luận, thế giới quan, nhân sinh quan, hoàn thiện các kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ.

2. Cơ sở thực tiễn.

Dạy học Nghị luận xã hội ở trường THCS chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật, đời sống chính trị, tư tưởng, … mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế. Dạy học Nghị luận xã hội ở trường THCS phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới bên ngoài nhà trường.

Nền giáo dục của chúng ta đang có sự cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau. Việc giảng dạy của giáo viên cũng tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này. Bởi thế, nhiệm vụ của Dạy học Nghị luận xã hội ở trường THCS là tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội trải nghiệm thực ttes và tự giáo dục mình qua những tình huống, hoàn cảnh cụ thể.

Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Nghị luận xã hội là cách thức để khắc phục, hạn chế lối dạy học một chiều đơn nhất. Mục đích của phương pháp này là nhằm nâng cao năng lực vận dụng phương pháp nghị luận có hiệu quả trong việc sử dụng những kiến thức và kĩ năng mà học sinh lĩnh hội được. Bảo đảm cho mỗi học sinh khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống có ý nghĩa. Cũng có khi là một tình huống khó khăn, bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp.

Qua bài học, học sinh biết kết hợp giữa lí thuyết và thực hành một cách hiệu quả. Mặt khác, tránh được những nội dung, kiến thức và kĩ năng trùng lặp. Đồng thời giúp học sinh lĩnh hội những nội dung, tri thức và năng lực, nhằm hoàn thiện kĩ năng giáo tiếp bằng ngôn ngữ ở học sinh. Điều mà mỗi môn học hay phân môn riêng rẽ không có được.

C. THỰC TRẠNG

Từ thực tế biên soạn chương trình và giảng dạy, chúng ta dễ dàng nhận thấy trong nội dung và phương thức giảng dạy kiểu bài Nghị luận xã hội ở nhà trương hiện nay đang tồn tại những hạn chế sau:

Thứ nhất, giáo viên vận dụng cứng nhắc một phương pháp nghị luận cho những vấn đề xã hội thuộc cùng một chủ đề nhưng có tính chất đối lập nhau. Chính điều này đã khiến cho nhiều học sinh lúng túng khi đối diện với những kiểu đề nghị luận có tính lập luận song song hai mặt. Từ đó, học sinh xác lập cách thức lập luận đơn điệu hoặc lập luận sai, không giải quyết được vấn đề đặt ra.

Bởi các sự vật, hiện tượng trong đời sống thực tiễn luôn tồn tại ở hai mặt đối lập. Cần có một cái nhìn soi chiếu và biện chứng, được định hướng bởi những phương pháp phù hợp và đúng đắn nhất để nhìn rõ bản chất của nó.

Như thế, xây dựng hệ thống các phương pháp nghị luận cho từng nhóm chủ đề, dựa trên hai mặt đối lập của sự vật, hiện tượng là một nhiệm vụ hết sức cần thiết.

Thứ hai, giáo viên chưa phân chia cấp độ sảy ra của sự vật hiện tượng và tác động của nó trong đời sống. Nếu có, chỉ là sự xác định chung chung, thiếu cụ thể. Từ đó chưa vận dụng đúng phương pháp nghị luận của kiểu bài tập làm văn.

Tùy theo cấp độ của sự việc mà người dạy xác định kiểu phương pháp nào là phù hợp nhất. Hoặc biến đổi phương pháp để bài nghị luận đạt hiệu quả cao nhất. Vì thế, bài làm của học sinh thường có những đánh giá, nhận xét chung chung, chưa khẳng định được hoặc đánh giá đúng mức độ tác động của sự vật, hiện tượng đối với đời sống con người. Bài học giáo dục nhận được cũng chưa sâu sắc.

Thứ ba, viêc khẳng định vai trò của phương pháp và việc hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá mức độ vận dụng phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội của học sinh, ở mỗi giáo viên, theo từng khối lớp chưa thật sự đồng nhất, khoa học và chính xác. Điều này khiến học sinh mất định hướng, thiếu tin tưởng vào tính đúng đắn của phương pháp làm bài. Từ đó dẫn đến hậu quả bài viết của học sinh thiếu lập luận, thiếu liên kết. Bài viết chỉ là một sự lắp ghép rời rac, khiên cưỡng của các luận điểm riêng lẻ. Hoặc chỉ là sự minh họa sơ sài, thiếu thuyết phục.

Phương pháp làm bài văn Nghị luận xã hội không nhất thiết đòi hỏi ở học sinh năng lực tưởng tượng, trừu tượng phức tạp như trong phân môn văn học nhưng vẫn đòi hỏi năng lực diễn đạt, năng lực lập luận có tính hệ thống và sáng tạo. Vì thế, việc ghi nhớ và vận dụng phương pháp trong bài làm văn đối với học sinh là hết sức khó khăn.

Thứ tư, nhìn từ phía học sinh, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy, tri thức văn học và tri thức về đời sống xã hội, tri thức phương pháp luận của học sinh hiện nay quá yếu kém. Khả năng tiếp nhận và vân dụng ngôn ngữ trong giao tiếp chỉ đạt một chừng mực nhất định. Hầu hết, học sinh học văn, làm văn đề lấy điểm lên lớp chứ chưa thật sự yêu mến môn học này.

Thứ năm, việc phát triển ồ ạt của hệ thống tri thức, phương tiện truyền thông, sách báo, internet, sự thay đổi nội hàm các khái niệm,…khiến học sinh mất định hướng trong việc tiếp nhận các nguồn tài liệu chuẩn xác. Sự nhiễu loạn của ngôn ngữ trong thời đại mới đã gây ra những hệ lụy nghiêm trọng. Đặc biệt là sự giao thoa của các ngôn ngữ trên thế giới làm nảy sinh và phát triển ngôn ngữ “Teen”, ngôn ngữ “chát” lệch lạc, thiếu chuẩn xác. Điều đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức về nguyên tắc cấu thành ngôn ngữ và sự vận dụng có nguyên tắc ngôn ngữ trong giao tiếp và tạo lập văn bản của học sinh.

D. GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học Nghị luận xã hội cần chú ý bảo đảm các yêu cầu sau:

– Giúp học sinh phân biệt và xác lập đúng đắn phương pháp làm bài văn nghị luận theo mỗi dạng đề bài khác nhau. Biết vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng vào giải quyết vấn đề đặt ra. Qua đó lĩnh hội các kiến thức và phát triển năng lực, kĩ năng.

– Tổ chức, thiết kế các phương pháp phức hợp để học sinh học cách sử dụng phối hợp các phương pháp vận dụng những kiến thức và kĩ năng giải quyết vấn đề.

– Phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh. Phải buộc học sinh chủ động tự đọc, tự học, tự lựa chọn phương pháp làm bài, tự làm việc độc lập theo theo hướng dẫn của giáo viên.

Từ những yêu cầu trên, chúng tôi xác định một vài giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học làm văn Nghị luận xã hội trong nhà trường hiện nay. Các giải pháp mang tính chất điều hướng dựa trên những nguyên tắc chung của bộ môn dạy học Làm văn trong nhà trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ định.

I. Một vài định hướng chung về phương pháp làm văn Nghị luận xã hội.

Văn nghị luận xã hội trong chương trình làm văn THCS và THPT về cơ bản được chia ra làm 3 kiểu bài :

+ Nghị luận về tư tưởng đạo lý;
+ Nghị luận về hiện tượng đời sống xã hội;
+ Nghị luận một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học.

Nhưng thực tế, rất khó phân biệt rạch ròi nét riêng của từng kiểu bài. Bởi vì, các vấn đề xã hội trong một bài văn nghị luận xã hội thường có sự đan xen vào nhau. Vì vậy, trước khi tiến hành lập dàn ý chung cho bài làm, học sinh cần xác định đề bài thuộc loại nào để có định hướng chung về phương pháp cho bài viết.

– Các vấn đề được nêu ra trong các đề nghị luận xã hội thường là những vấn đề về tư tưởng, đạo lý liên quan tới đạo đức làm người, quan niệm về một lối sống, một ý kiến bàn về quan điểm sống của các nhà tư tưởng lỗi lạc hay một hiện tượng xã hội có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống của cá nhân và xã hội. Các vấn đề ấy thường được thể hiện trong các câu danh ngôn, tục ngữ hay ngạn ngữ, hay qua các hình tượng văn học nên chúng thường trừu tượng.

– Chính vì vậy, khi làm bài Nghị luận xã hội, người viết cần có sự linh hoạt trong nhận thức vấn đề. Từ nhận thức đi đến trình bày cái hiểu là cả một quá trình để áp dụng cái mình hiểu.

1. Xác định kiểu đề bài

Việc xác định đề bài là điều kiện quan trọng để học sinh hình dung được toàn bộ hướng đi của bài viết, tránh được lỗi sai làm lạc đề thường mắc phải của nhiều học sinh khi làm.

Dấu hiệu dễ nhận dạng nhất của loại đề này đó là nó thường là những câu nói trực tiếp để trong ngoặc kép của các danh nhân nổi tiếng hay là một câu thơ, một ý kiến trích dẫn trong tác phẩm văn học, một câu chuyện, một tình huống sảy ra trong đời thường…

Có thể nói, đây là dạng chung mà nhiều năm gần đây Bộ giáo dục đã hướng đến để học sinh tiếp cận trong những mùa thi. Để làm được dạng bài này đạt kết quả cao, đòi hỏi học sinh phải có vốn hiểu biết nhất định về thực tế xã hội. Như vậy, bài văn viết ra sẽ chân thật, sinh động, có sức lôi cuốn mạnh mẽ.

2. Xác định bố cục

Muốn viết được một bài văn nghị luận hoàn chỉnh, trước hết học sinh cần phải xác định được bố cục của bài. Bố cục chính là sự sắp xếp ban đầu của các luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng, có vai trò định hướng căn bản cho toàn bộ ý tưởng mà ta sắp diễn đạt.

Dù bài văn thuộc bất cứ dạng đề nào trong hai loại trên đây thì nó vẫn phải đảm bảo đầy đủ bố cục 3 phần là: Mở bài (Đặt vấn đề), Thân bài (Giải quyết vấn đề) và Kết luận (Kết thúc vấn đề).

Một bài viết sẽ bị đánh giá thấp nếu ta không xây dựng được bố cục hoàn chỉnh. Trong trường hợp khi hết giờ làm bài mà học vẫn chưa giải quyết xong phần thân bài thì cũng nên nhanh chóng chuyển sang làm phần kết bài để tránh tình trạng thiếu về bố cục bài viết của mình.

Việc duy trì bố cục này sẽ giúp học sinh đảm bảo được về mặt hình thức cho bài viết của mình. Vì thế, bài viết dù lập ý chưa hoàn thành nhưng vẫn được đánh giá là hoàn thành bố cục bài viết theo mức độ nào đó.

3. Xác định cách đánh giá, bình luận và nêu dẫn chứng

Khi làm văn nghị luận xã hội, nhất thiết cần có những nhận xét, đánh giá của bản thân và mở rộng vấn đề. Tuy điều này không được nhiều học sinh chú ý tới nhưng nó lại là tiêu chí quan trọng để thầy cô xem xét về mức độ hiểu biết và năng lực nhận thức của học sinh đối với thực tế cuộc sống. Nhưng phần này cũng không nên quá dài dòng vì nó cũng có thể khiến học sinh làm sai đề, lạc hướng mà cần viết ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu.

Để làm tốt phần này, cách tốt nhất nên tham khảo nhiều sách, báo, tạp chí hay các phương tiện truyền thông, thực tế cuộc sống để dễ lấy ví dụ nhất. Chẳng hạn về vấn đề tai nạn giao thông hay chuyện sống thử của giới trẻ hiện nay, vấn đề trang phục của giới trẻ hay facebook…

Học sinh có thể trích dẫn thơ hoặc các ý kiến đánh giá có cơ sở để làm bài viết của mình sinh động hơn. Dẫn chứng đưa ra phải khách quan, chính xác, chân thực và phổ quát.

Điều quan trọng là cần yêu cầu học sinh luyện tập, thực hành nhiều đề để luyện khả năng viết mạch lạc, chính xác và nâng cao việc nhận dạng đề và lập dàn ý cho mình. Sau khi viết cần kiểm tra lại cả bài làm để tránh những sai sót không đáng có gây mất điểm.

II. Yêu cầu chung cho kiểu bài Nghị luận xã hội

1. Về nội dung:

Bài làm văn về nghị luận xã hội là một bài tập làm văn mà ở đó yêu cầu học sinh trình bày được:

+ Quan điểm, thái độ của mình về một vấn đề xã hội nào đó (được nêu trong yêu cầu của đề bài) bằng hình thức bình luận và bàn luận mở rộng.

+ Xác định được bài học cho bản thân trên các khía cạnh: Nhận thức được gì sau khi bàn luận và tự nêu được hành động  hoặc đề xuất những biện pháp góp phần làm cho vấn đề vừa bàn luận tốt đẹp hơn trong cuộc sống.

2. Về hình thức.

– Tùy theo từng lớp học, cấp học mà bài văn nghị luận có yêu cầu khác nhau về dung lượng bài viết. Ở lớp 7, viết thành đoạn văn nghị luận ngắn. Ở lớp 8 – 9 viết thành một bài nghị luận ngắn từ 22 – 25 dòng. Từ lớp 10 đến lớp 12 yêu cầu dung lượng khoảng 500-700 chữ, hoặc có thể ít hơn. Mức độ hay dung lượng bài viết có thể thay đổi theo thời gian học sinh tiến hành bì viết. Ví dụ, về dung lương, cùng một đề bài nếu làm trong 45 phút thì ngắn hơn làm trong 90 phút. Về mức độ lập luận, bài 90 pjuts yêu cầu phân tích, bình luận phải sâu sắc, rõ ràng hơn.

– Một bài nghị luận xã hội dù dung lượng không dài cũng vẫn phải đảm bảo cấu trúc của một bài làm văn. Từ cấu trúc của bài nghị luận tiến đến hình thành tư duy cấu trúc cho học sinh mỗi khi làm văn. Bố cục 3 phần như các bài văn khác. Phần Giải quyết vấn đề được tổ chức bằng một số đoạn văn.

– Yêu cầu lập luận (có lý lẽ ) chặt chẽ kết hợp minh chứng, diễn đạt logic mạch lạc và trình bày sáng sủa.

3. Về kĩ năng

Mỗi bài văn nghị luận xã hội đều yêu cầu sự vận vận dụng nhiều kĩ năng của học sinh: Kĩ năng quan sát thực tiễn, kĩ năng thống kê, phân tích dữ liệu, kĩ năng lập ý, kĩ năng bố cục văn bản, kĩ năng lập luận, bàn luận, bình luận, đánh giá, kĩ năng dẫn chứng và phân tích dẫn chứng, kĩ năng so sánh, đối chiếu, kĩ năng diễn đạt…

III. Phân biệt các dạng của Nghị luận xã hội

1. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí: Là một dạng đề của Nghị luận xã hội. Đề tài được đưa ra trong đề là những vấn đề về tư tưởng ( lí tưởng, mục đích sống tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân hoặc tập thể), đạo lí ( những chuẩn mực luân lí, đạo đức của dân tộc ). Các vấn đề tiêu biểu thường gặp là :

– Nhận thức : Lí tưởng, mục đích sống.
– Tâm hồn, tích cách, đức tính : Lòng yêu nước, lòng biết ơn, lòng nhân ái; tính trung thực, tính dũng cảm, chăm chỉ cần cù; thái độ hòa nhã, khiêm tốn,; thói ba hoa, ích kỉ, vụ lợi,…
– Quan hệ gia đình : Tình mẫu tử, tình anh em.
– Quan hệ xã hội : Tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn.
– Cách ứng xử của mọi người trong cuộc sống: văn hóa giao thông, ý thức vệ sinh môi trường, giữ trật tự nơi công cộng….

2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Nghị luận về một hiện tượng đời sống: Là một dạng đề của Nghị luận xã hội. Đề tài đưa ra trong đề là những vấn đề về một hiện tượng thường xảy ra, thường gặp trong đời sống và lấy hiện tượng đó để bàn bạc.

Các đề tài để bàn bạc gần gũi với đời sống và sát hợp trình độ nhận biết xã hội của học sinh như: Tấm gương người tốt việc tốt, thói hư tật xấu, tai nạn giao thông, hiện tượng ô nhiễm môi trường, hiện tượng suy thoái đạo đức, nhân cách, các tệ nạn xã hội, những tiêu cực trong thi cử …

3. Nghị luận về một vấn đề xã hội được phản ánh trong văn học

Nghị luận về một vấn đề xã hội được phản ánh trong văn học: Là dạng đề của Nghị luận xã hội. Đề tài đưa ra trong đề là những vấn đề về lí tưởng sống ( qua nhân vật anh hùng ), vấn đề về số phận con người (qua nhân vật bất hạnh ), vấn đề về đạo đức, nhân cách, nhân phẩm ( nhân vật mang tính cách điển hình )…được phản ánh trong tác phẩm văn học.

Ở dạng đề này, là sự tích hợp giữa nghị luận đạo lí tư tưởng và nghị luận đời sống xã hội.

* Lưu ý:

– Tùy theo sự vật, hiện tượng được nêu trong đề là hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực mà người viết có thể xác định một dàn ý hợp lí. Nếu đề bài ra là vấn đề tích cực thì phải bộc lộ quan điểm ca ngợi, biểu dương, tôn vinh đồng thời phê phán những suy nghĩ hoặc hành vi tiêu cực. Nếu đề ra về hiện tượng tiêu cực thì bộc lộ quan điểm phê phán, lên án, đả kích đồng thời định hướng và ca ngợi những suy nghĩ hoặc hành vi tích cực (thường là phát ngôn, suy nghĩ biểu thị tư tưởng của một cá nhân, một nhóm trong xã hội).

– Trường hợp đề ra thông qua một thông điệp, một nhận định chung thì phải thực hiện đồng thời quan điểm ca ngợi mặt tích cực, và phê phán mặt tiêu cực; từ đó xác định được suy nghĩ và hành động hướng theo cái tốt đẹp có tính giáo dục.

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VÀO BÀI LUYỆN TẬP THỰC HÀNH LÀM VĂN NGHỊ LUẬN ĐẠO LÍ, TƯ TƯỞNG CỤ THỂ

ĐỀ BÀI: “Người ta thường nói văn học là nhân học. Tôi công nhận. Nhưng với riêng tôi, văn học không chỉ là môn khoa học về con người. Cái cốt lõi của nó là lòng nhân ái”. (Rasul Gamzatop – Theo báo Văn nghệ số 45 ngày 5/11/2011). Suy nghĩ của em về quan niệm trên.

GIÁO VIÊN

HỌC SINH
BÀI GHI BẢNG
I. Xác định đề tài.
– Yêu cầu xác định kiểu đề và phạm vi bàn luận của đề bài trên.

– Yêu cầu xác định kiểu đề và phạm vi bàn luận của đề bài trên.

I. Xác định đề tài.
– Kiểu đề bài: Nghị luận đạo lí tưởng.
– Phạm vi bàn luận: lòng nhân ái được phản ánh trong văn học.
– Dẫn chứng: văn học và đời sống.
II. Lập dàn ý.
* Mở bài:
– Yêu cầu học sinh làm phần mở bài theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

* Thân bài:
– Giải thích vấn đề:
– Vì sao lại nói : Văn học là nhân học ?
– GV dẫn: Nếu dừng lại ở từ “nhân học” có nghĩa văn học là môn khoa học về con người. Môn khoa học về con người thì đòi hỏi tính chân lí khách quan. Điều đó không sai. Nghĩa là nhà văn miêu tả, phân tích, khám phá, phát hiện các mặt về đời sống con người từ sinh lí đến tâm linh ở góc độ khách quan một cách chân thực.
– Vì sao lại nói : văn học không chỉ là môn khoa học về con người. Cái cốt lõi của nó là lòng nhân ái” ?
– GV dẫn : Rasul Gamzatop không phủ nhận điều đó, nhưng nếu chỉ dừng lại ở một môn khoa học khám phá về con người là chưa đủ. Ông bổ sung và khẳng định rằng cái cốt lõi của văn học là lòng nhân ái. Bởi lẽ : ngoài việc miêu tả, phân tích, khám phá về con người,… nhà văn còn phải sử dụng ngòi bút thể hiện lòng thương người, phải biết đau với cái đau của cuộc đời, của nhân loại, của thời đại, biết lên án cái ác, ngợi ca cái thiện, phê phán cái xấu, biểu dương cái đẹp, biết nâng niu bảo vệ sự sống, quý trọng, tôn vinh nhân cách và phẩm giá con người.

– Chứng minh lòng nhân ái được biểu hiện sâu sắc như thế nào qua các tác phẩm văn học đã học ?

– Từ những lí lẽ đó, điểm chung nhất ở các tác phẩm văn học là gì ?

– Viêc lợi dung văn chương để tuyên truyền các tư tưởng sai lầm, lệch lạc khá phổ biến trong cuộc sống hiện nay. Suy nghĩ của em về hiện tượng trên ? Từ đó, hãy xác định trách nhiêm của một nhà văn chân chính trong quá trình sáng tạo văn chương.

– Qua câu nói của Rasul Gamzatop, hãy nêu nhiêm vụ chính của văn học trong đời sống con người.

– Hãy rút ra nhận thức chung nhất về nhiêm vụ cốt lõi của văn học và nhà văn chân chính.

– Học sinh làm phần mở bài.

– Thảo luận nhóm.
+ Giải thích: văn học phản ánh toàn diện đời sống và tinh thần của con người và xã hội.

– Thảo luận nhóm.
+ Văn học không chỉ là môn khoa học về con người. Cái cốt lõi của nó là lòng nhân ái” ?
+ Văn học khám phá sâu sắc đời sống dựa trên nền tảng lòng nhân ái giữa con người với con người. Thông qua các hình tượng nghệ thuật nhà văn lên án cái ác, ngợi ca cái thiện, phê phán cái xấu, biểu dương cái đẹp, biết nâng niu bảo vệ sự sống, quý trọng, tôn vinh nhân cách và phẩm giá con người ( dẫn chứng ).

– Thảo luận nhóm. Dựa vào kiến thức đã học trong chương trình (như về Nguyễn Du, Nam Cao, Hồ Chí Minh (Nhật ký trong tù), Thạch Lam, Kim Lân, Đỗ Phủ…), cũng như kiến thức về tác phẩm văn học đọc thêm ngoài chương trình để dẫn chứng, phân tích, chứng minh làm rõ vấn đề.
– Điểm chung nhất ở các tác phẩm văn học là phản ánh lòng nhân ái của con người.

– Thảo luận nhóm. II. Lập dàn ý.
* Mở bài:
– Trích dẫn câu nói của Rasul Gamzatop.
– Câu nói trên của Rasul Gamzatop đã khẳng định ý nghĩa văn học là nhân học và lòng nhân ái trong văn học…
* Thân bài:
– Giải thích vấn đề:
+ Văn học là nhân học: văn học miêu tả, phân tích, khám phá, phát hiện các mặt về đời sống con người từ sinh lí đến tâm linh ở góc độ khách quan một cách chân thực.

+ Ngoài việc miêu tả, phân tích, khám phá về con người,… nhà văn còn phải sử dụng ngòi bút thể hiện lòng thương người, phải biết đau với cái đau của cuộc đời, của nhân loại, của thời đại, biết lên án cái ác, ngợi ca cái thiện, phê phán cái xấu, biểu dương cái đẹp, biết nâng niu bảo vệ sự sống, quý trọng, tôn vinh nhân cách và phẩm giá con người.

– Phân tích, chứng minh, bàn luận:
+ Những biểu hiện của lòng nhân ái trong văn học xưa và nay (phân tích và dẫn chứng).
+ Những tác phẩm có giá trị về nội dung tư tưởng lớn và nghệ thuật cao được công nhận và sống với thời gian (phân tích và dẫn chứng).

– Khẳng định: Cái cốt lõi của văn học là lòng nhân ái.

– Phê phán: Cũng có những nhà văn có năng lực, nhưng khám phá, khai thác con người ở góc độ trần tục, thấp hèn, nhầy nhụa, hoặc thông qua lăng kính chủ quan áp đặt làm cho hình ảnh con người trở nên trần trụi, méo mó,… thiếu tình người, không mang tính nhân văn, tác động xấu đến nhận thức, tâm hồn người đọc.., đều bị phê phán, lên án.

+ Bình luận: Câu nói của Rasul Gamzatop đã khẳng định để làm rõ thêm về quan niệm: “Văn học không chỉ là môn khoa học về con người. Cái cốt lõi của nó là lòng nhân ái” là có cơ sở. Từ đó , câu nói làm rõ thêm chức năng , nhiệm vụ của văn học với con người và đời sống.

Kết bài :
– Cái cốt lõi của văn học là lòng thương người, vì con người mà phục vu. Một nhà văn chân chính phải lấy con người làm đối tượng phản ánh các giá trị nhân bản trong đời sống xã hội.
III. Thực hành
– Học sinh tự viết một bài văn vào vở. III. Thực hành viết bài văn

Đề bài: “Mối quan hệ giữa học và hành”

GIÁO VIÊN

HỌC SINH
BÀI GHI BẢNG
I. Xác định đề tài.
– Yêu cầu xác định kiểu đề và phạm vi bàn luận của đề bài trên.

– Yêu cầu xác định kiểu đề và phạm vi bàn luận của đề bài trên.

I. Xác định đề tài.
– Kiểu đề bài: Nghị luận đạo lí, tư tưởng.
– Phạm vi bàn luận: mối quan hệ giữa học và hành trong cuộc sống.
– Dẫn chứng:
II. Lập dàn ý.
* Mở bài:
– Ý nghĩa của “học” và “hành” trong cuộc sống.

– “Học” là gì ?
– Học tập là một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội loài người. Học tập giúp con người duy trì, phát triển và hoàn thiện tri thức nhân loại.

– “Hành” là gì ?
– Hành là quá trình vừa vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào cuộc sống thực tiễn vừa nhằm kiểm chứng và khẳng định tri thức, kinh nghiệm ấy. Tri thức thật sự được khẳng định chỉ khi được vận dụng vào hoàn thành một công việc cụ thể trong thực tiễn nhằm tạo ra một giá trị nào đó cho cuộc sống.
– Giữa “học” và “hành” có mối quan hệ như thế nào ?
+ Nhóm 1: Nếu học mà không hành thì làm việc có đạt được hiệu quả không ? lấy ví dụ chứng minh.
+ Nhóm 2: Nếu hành mà không học thì công việc có hoàn thành tốt đẹp không ? lấy ví dụ chứng minh.
+ Nhóm 3: Nếu kết hợp chặt chẽ giữa học và hành trong đời sống thì sẽ như thế nào ?

– HS trả lời.

– “ Học”: là quá trình tiếp nhận, lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm từ thực tiễn vào bên trong đầu óc của con người.
– “Hành”: là quá trình vận dụng tri thức, kinh nghiệm ấy vào trong cuộc sống nhằm hoàn thành một công việc cụ thể.

– HS thảo luận:

– Dễ thất bại trong công việc và trở thành người vô dụng. Dẫn chứng:
-Dễ mắc sai lầm trong công việc, trở thành kẻ phá hoại. Dẫn chứng:
– Ít sai sót, dễ hoàn thành công việc và thành công trong cuộc sống

II. Lập dàn ý.
* Mở bài: Để chiếm lĩnh tri thức và xây dựng cuộc sống con người cần phải học và hành. Bàn về mối quan hệ giữa học và hành, Bác Hồ từng dạy: “học phải đi đôi với hành”.
* Thân bài:
– Giải thích:
+ “ Học”: là quá trình tiếp nhận, lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm từ thực tiễn vào bên trong đầu óc của con người. Học còn có thể hiểu là nắm bắt lí thuyết, biến lí thuyết thành kĩ năng của mình.
+ “Hành”: là quá trình vận dụng tri thức, kinh nghiệm ấy vào trong cuộc sống nhằm hoàn thành một công việc cụ thể. Hành còn có thể hiểu là quá trình biến lí thuyết thành hành động cụ thể nhằm hoàn thiện một kĩ năng hoặc hoàn thành một công việc.
+ Nhận xét: “học” và “hành” có mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ.
– Bàn luận và chứng minh:
+ Nếu “học” mà không “hành” thì nắm vững lí thuyết mà thiếu kĩ năng, thiếu kinh nghiệm thực tế, làm việc dễ thất bại, trở thành người vô dụng. (Dẫn chứng).
+ Nếu “hành” mà không “học” thì có kĩ năng, kinh nghiệm thực tế nhưng thiếu hiểu biết, không có sự chỉ đạo của lí thuyết, dễ mắc sai lầm trong công việc, trở thành kể phá hoại. (Dẫn chứng)
+ Nếu vừa “học” vừa “hành” thì vừa nắm vững lí thuyết vừa có kĩ năng vững vàng, hình thành kinh nghiệm thực tế, ít sai sót, dễ hoàn thành công việc và thành công trong cuộc sống. (Dẫn chứng).
+ Dẫn chứng và phân tích một tấm gương tiêu biểu: Hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ.
+ Khẳng định: “học” và “hành” là một quá trình biện chứng và liên tục không thể tách rời. Muồn thành công trong cuộc sống cần kết hợp chặt chẽ giữa “học” và “hành”.
+ Bàn luận mở rộng:
+ Rút ra bài học giáo dục, liên hệ bản thân:
III. Thực hành
– Yêu cầu học sinh viết một đoạn văn nghị luận từ dàn ý trên.
– Học sinh viết đoạn văn. III. Thực hành

IV. Nhận xét, củng cố.
– Gọi 2 – 3 học sinh đọc đoạn văn vừa viết.
– Nhận xét, đánh giá, sửa chữa.
– Học sinh đọc. IV. Nhận xét
V. Dặn dò V. Dặn dò
– Viết bài văn hoàn chỉnh vào vở.

theo http://duongleteach.com

6 Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published.