Phân tích tác phẩm Ai đã Đặt tên cho dòng sông-Hoàng Phủ Ngọc Tường

  • Mở bài:

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn, một tri thức yêu nước. Ông có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực. Ông chuyên về thể loại bút kí. Nét đặc sắc trong tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức sâu rộng về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý,… Tất cả được diễn đạt trong lối hành văn hướng nội xúc tích, say đắm và tài hoa.

Ai đã đặt tên cho dòng sông là một trong những bút kí đặc sắc của ông. Tác phẩm vừa thể hiện những nét độc đáo của sông Hương, vừa biểu hiện phong cách trữ tình hướng nội xúc tích và tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

  • Thân bài:

Vẻ đẹp của sông Hương qua từng chặng:
+ Sông Hương ở thượng nguồn
+ Sông Hương ở vùng ngoại vi Huế
+ Sông Hương với vẻ đẹp kinh thành Huế
+ Sông Hương chia tay với Huế để hòa vào biển cả.

Vẻ đẹp sông Hương qua các góc độ khác nhau:
+ Sông Hương với vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng trữ tình.
+ Sông Hương nhìn từ góc độ văn hóa
+ Sông Hương nhìn từ góc độ lịch sử

Nếu con sông Đà phải cảm ơn Nguyễn Tuân vì nhờ nhà văn nó mới được ghi tên trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại như một đối tượng thần mĩ; thì cũng giống như vậy, dòng sông Hương cũng phải cảm ơn nhà văn chuyên viết kí Hoàng Phủ Ngọc Tường. Có thể nói, hai con sông ấy chảy chung trong lịch sử hai vùng đất nước đã được hai nhà văn bắt mạch, khơi dòng cho chúng chảy tiếp uốn lượn bồng bềnh, trôi trong biển nước văn chương đầy chất thơ, chất họa, chất nhạc,… Để rồi mãi tha thiết chảy trong tâm hồn bạn đọc.

Sông hương vùng thượng lưu được miêu tả và so sánh như cô gái Di-Gan phóng khoáng và man dại. Sông Hương vùng thượng lưu mang vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại, bí ẩn, sâu thẳm nhưng cũng có lúc dịu dàng, say đắm. Từ khởi nguồn đã ẩn chứa nguồn sức mạnh dữ dội. Sự mãnh liệt, hoang dại của con sông được hình tượng hóa “như một bản trường ca của rừng già , rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”. Khi chảy qua miền địa hình hiểm trở, sông Hương mang vẻ đẹp dữ dội “tung phá mãnh liệt qua ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc xoáy vào đáy vực bí ẩn”.

Nhưng cũng có lúc nó lại hiền lành trữ tình “dịu dàng, say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Hình ảnh dòng sông mang đậm chất sử thi tráng lệ vừa mạnh mẽ, phi thường vừa trữ tình hồn hâu. Đó cũng là tấm lòng yêu mến thiết tha của nhà văn đối với cội nguồn của quê hương đất Huế.

Dòng sông được một lần nữa được hình tượng hóa như một cô gái phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ. Rừng già cũng tạo cho nó một tâm hồn tự do và trong sáng. Đó là sức mạnh bản năng của người con gái. Sức mạnh ấy được chế ngự bởi cấu trúc địa lý lãnh thổ để đi ra khỏi rừng. Nó “nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá sứ sở”.

Sông Hương khi mạnh mẽ, khi lại dịu dàng. Con sông có lúc “mềm như tấm lụa” khi qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lưu Bảo. Có khi lại như ánh lên “những phản quang nhiều màu sắc: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” lúc qua những đồi núi phía Tây Nam thành phố và mang “vẻ đẹp trầm mặc” khi qua bao lăng tẩm, đền đài. Khi lại mang niềm kiêu hãnh âm u được phong kín trong những rừng thông u tịch. Cho đến lúc bừng sáng tươi tắn và trẻ trung khi gặp “tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”.

Hai bút pháp kể và tả được kết hợp với nhuần nhuyễn và tài hoa trong đoạn văn đã làm nổi bật một sông Hương đẹp bởi phối cảnh kì thú giữa nó với thiên nhiên xứ Huế phong phú mà hài hòa.

Sông Hương ở mỗi chặn đường lại mang một vẻ đẹp khác nhau. Nếu như ở thượng nguồn là một vẻ đẹp man dại và đầy cá tính giống như một cô gái Di-Gan thì ở đoạn sông này, sông Hương có một vẻ đẹp mềm mại, dịu dàng.

Bút pháp miêu tả của nhà văn cũng có sự chuyển đổi. Vẫn là nét tài hoa, trữ tình nhưng có sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa kể và tả đầy linh hoạt. Sông Hương khi chảy vào thành phố Huế – một sông Hương mơ mộng soi bóng Kinh thành Huế. Như đã tìm thấy chính mình khi bắt gặp thành phố thân yêu, sông Hương “vui tươi hẳn lên giữa những bãi biển xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long”. Dòng sông “kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng Tây-Bắc-Đông-Nam”, rồi “uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến” khiến cho “dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”.

Nằm ngay giữa lòng thành phố, sông Hương cũng giống như sông Xen của Paris, sông Đa-Nup của Budapet,… Nhưng trong biểu đạt tài hoa của tác giả, sông Hương được cảm nhận từ nhiều góc độ khác nhau, đưa lại cho người đọc những cảm nhận đa dạng, phong phú: nhìn bằng con mắt của hội họa, sông Hương và những chi lưu của nó tạo nên những đường nét thật tinh tế, tôn lên vẻ đẹp cổ kính của cố đô. Qua cách cảm nhận âm nhạc, sông Hương lại đẹp như một điệu slow chậm rãi, sâu lắng trữ tình và với cái nhìn đắm say của một trái tim đa cảm thì sông Hương lại là một người tình dịu dàng và chung thủy.

Sông Hương gắn bó mật thiết với kinh thành Huế, góp phần tạo nên vẻ đẹp đặc trưng riêng của Huế. Chính vì luyến day dứt không nở rời xa: “rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính Bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô vĩ dạ và rồi sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi vòng, rẻ ngoặt sang hướng Đông Tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh cổ xưa”.

Cũng theo nhận xét của tác giả thì khúc quanh thật bất ngờ đó tựa như một nỗi vương vấn và dường như còn có cả “chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”.

  • Kết bài:

Sức liên tưởng kì diệu, sự hiểu biết phong phú về địa danh, lịch sử, văn hóa và đời sống con người đôi bờ sông Hương kết động trong những câu văn vừa chân thực vừa có chiều sâu triết lý khiến cho hình ảnh dòng sông trở nên sống động, lung linh, huyền ảo lạ thường.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.