Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu

nghi-luan-chung-no-cam-sung-minh-phai-cam-giao
  • Mở bài:

Rừng xà nu là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyên Ngọc và cũng là một tác phẩm tiêu biểu cho đề tài văn học chống Mĩ trong văn học hiện đại. Viết truyện hanngắn năm 1965, Nguyễn Trung Thành muốn phản ảnh lòng yêu nước bất khuất và sức sống kiên cường của người dân Tây Nguyên. Đồng thời, ông cũng muốn khẳng định chân lý của thời đại: “Phải dùng bạo lực cách mạng để đánh đổ bạo lực phản cách mạng”, như lời của cụ Mết “chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo”. Rừng xà nu còn tiêu biểu của khuynh hướng lãng mạn và sử thi. Nhân vật trung tâm của truyện ngắn này là nhân vật Tnú – một nhân vật tiêu biểu cho Tây Nguyên bất khuất, một là nhân vật anh hùng trong cả một tập thể anh hùng ấy là buôn làng Xô Man và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Thông qua hình tượng nhân vật Tnú, Nguyễn Trung Thành đã thể hiện tư tưởng, chủ đề cũng như thành tựu nghệ thuật của truyện ngắn Rừng xà nu.

  • Thân bài:

Tnú là một nhân vật điển hình trong văn học, một  nhân vật điển hình thường được nhà văn xây dựng trong một hoàn cảnh điển hình. Hoàn cảnh chính là môi trường để nhân vật bộc lộ cá tính của mình. Ở đây là buôn làng Xô Man trong những ngày đầu thử thách.

Đọc câu chuyện này, người đọc ấn tượng đầu tiên ở nhân vật Tnú là đức tính trung thực, gan góc, dũng cảm. Tính cách của nhân vật Tnú phát triển nhất quán trong cuộc đời anh. Nó được bộc lộ ngay từ khi Tnú còn nhỏ, đi làm liên lạc, Tnú và Mai được anh Quyết dạy cho cái chữ, học chữ thua Mai, Tnú đã đập bảng, lấy đá ghì vào đầu mính đến chảy cả máu. Chi tiết này cho thấy Tnú là con người trung thực với chính lòng mình.

Đặc biệt sự gan góc dũng cảm của anh được bộc lộ khi Tnú đối mặt với kẻ thù khi Tnú bị giặc bắt và tra tấn vô cùng dã man. Chúng đã hỏi Tnú “Cộng sản ở đâu?” liền với câu hỏi đó, Tnú chỉ tay vào bụng mình trả lời đầy khí phách “Cộng sản ở đây này!”. Chúng ta biết rằng, đằng sau câu trả lời ấy thì lưng anh đã dọc ngang vết chém của kẻ thù.

Nhưng ấn tượng hơn cả ở, nhân vật này là đôi bàn tay của anh. Văn học thời kì kháng chiến chống Mĩ, khi xây dựng hình tượng anh hùng trong cả một tập thể anh hùng, các nhà văn thường bị ám ảnh bởi một số những chi tiết mang được phẩm chất của nhân vật ấy. Ai đã từng đọc tiểu thuyết Hòn đất của nhà văn Anh Đức. Dễ nhận thấy ở đó nhà văn đã mô tả rất sắc nét mái tóc của chị Sứ – mái tóc ấy như linh hồn của chị.

Nguyễn Trung Thành lại bị ám ảnh bởi đôi bàn tay của Tnú, đôi bàn tay của anh là đôi bàn tay mang được  tính cách nhân vật. Đôi bàn tay ấy khi chưa bị giặc tra tấn thì đó là đôi bàn tay tình nghĩa. Đôi bàn tay ấy đã từng lấy đá đập vào đầu mình, từng trừng phạt mình khi hịc cái chữ hay quên. Đôi bàn tay ấy đã từng làm cho Mai xúc động khi Tnú bỏ trốn khỏi ngục Kon Tum trở về, chị ra đón anh tận đầu làng, cầm đôi bàn tay của anh mà giàn giụa nước mắt.

Đôi bàn tay ấy bị giặc tra tấn, tẩm nhựa xà nu đốt. Mười ngón tay ấy trở thành mười ngọn lửa, mười ngọn lửa ấy cộng hưởng lại với nhau để châm bùng lên ngọn lửa đồng khởi của nhân dân miền Nam chống lại cuộc chiến tranh đơn phương  Mĩ.

Đọc câu chuyện này, người đọc dễ dàng nhận thấy ở Tnú có tính kỉ luật cao, trung thành tuyệt đối với cách mạng. Điều này được thể hiện khi anh bị đốt mười đầu ngón tay. Lửa xà nu đã đốt cháy cả hệ thần kinh của anh, chảy cả ruột gan anh nhưng Tnú không thấy lửa ở mười ngón tay mà anh chỉ thấy lửa cháy trong bụng mình, trong ngực mình.

Điều đó chứng tỏ ngọn lửa ấy đã bước qua giới hạn không gian trở thành ngọn lửa căm thù hừng hực trong lòng anh, máu anh mặn chát cả đầu lưỡi anh, răng anh cắn nát môi anh, rồi trong hoàn cảnh đó, Tnú không hề hế răng kêu nửa lời, Tnú luôn tâm niệm lời dạy của Đảng, lời dạy của anh Quyết: “Người cộng sản không thèm kêu van”. Là một người luôn mang trong mình lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng nên Tnú luôn tin tưởng vững chắc vào sự thắng lợi của cách mạng.

Tình yêu thương cũng như lòng căm giận của Tnú mang đậm tính cách của người Tây Nguyên. Hiện lên trong câu chuyện, Tnú là người sống rất nghĩa tình. Anh có lòng yêu thương sâu sắc đối với gia đình và quê hương của mình. Khi còn nhỏ, Tnú là người bạn tốt của Mai, khi trưởng thành anh là người yêu chung thủy của Mai rồi cũng là người chồng, người cha đầy trách nhiệm. Khi giặc đánh đập, tra tấn mẹ con Mai một cách dã man, Tnú đã xông vào cứu mà trong tay không hề có một thứ vũ khí nào. Động lực nào đã làm nên sức mạnh hùng thiêng ở Tnú để anh xông xào kẻ thù bất chấp mọi hiểm nguy?

Sẽ là gì nếu không phải động lực ấy được khơi lên từ một trái tim rực lửa yêu thương cháy lửa căm thù. Tnú là một tấm gương để cụ Mết giáo dục cho thế hệ trẻ ở buôn làng Xô Man. Lòng căm thù giặc sâu sắc ở nhân vật Tnú được gợi lên mạnh mẽ sâu sắc bởi Tnú mang trong mình ba mối thù lớn đối với giặc. Đó là mối thù bản thân anh, mối thù gia đình anh và mối thù của buôn làng anh.

Dọc lưng anh đều ngang dọc những dao chém của kẻ thù, mười đầu ngón tay bị giặc thiêu cháy một đốt, đó là mối thù cá nhân anh, đó là chứng tích của lòng căm thù giặc cao độ mà Tnú mang trong mình suốt đời. Vợ con anh bị giết một cách thảm khốc dưới cây gọng sắt của kẻ thù. Đó là mối thù gia đinh mà anh quyết không đội trời chung.

Những người dân làng Xô Man bị kẻ thù giết hại, những cánh rừng xà nu bị đạn bom tàn phá, mảnh đất quê hương anh bị bom đạn cầy xới, băm vằm. Đó là mối thù của buôn làng mà suốt cuộc đời Tnú không bao giờ nguôi ngoai. Mang trong mình ba mốt thù lớn ấy với đôi bàn tay bị đốt ngón trỏ chỉ còn hai đốt, Tnú vẫn quyết tâm đi tìm giặc để trả thù. Với Tnú đã là thằng giặc thì thằng nào cũng là thằng Dục cả.

Vì vậy, ở cuối câu chuyện với bàn tay cụt đốt, Tnú vẫn bóp chết tên chỉ huy ngay trong hầm cố thủ của hắn với một điều tâm niệm: “Đó là thằng Dục”. Chi tiết nghệ thuật này vừa thể hiện lòng yêu nước, căm thù giặc mang tính cách dân tộc, lại vừa khẳng định chân lí ác giả ác báo. Kẻ thù gây ra tội ác thì chúng phải chết bằng chính cái chứng tích đó.

Dân làng Xô Man có biết bao nhiêu người, bao nhiêu số phận, gia đình phải gánh chịu đau thương của chiến tranh như Tnú. Đọc truyện ngắn chúng ta nhận thấy có những người bị kẻ thù tàn sát treo cổ trên cây và đầu làng thậm chí có những kẻ người bị kẻ thù chặt đầu, cột tóc trên đầu súng. Nhưng bi kịch của Tnú vẫn  mang ý nghĩa điển hình, Tnú mang trong mình ba mối thù lớn sâu sắc với giặc, anh đã lao vào đánh giặc không hề tính toán không hề có vũ khí trong tay. Do vậy, Tnú thất bại nặng nề. Từ sự thật đó, Nguyễn Trung Thành đã đưa ra một chân lý của thời đại chống Mĩ: nếu chỉ có lòng căm thù giặc thôi chưa đủ, thời đại chống Mĩ phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt lực lượng phản cách mạng.

Bi kịch của Tnú khi không có vũ khí trong tay đã thất bại đau đớn trước kẻ thù hung bạo. Nhìn rộng ra, nó cũng là bi kịch của những người dân làng Xô Man khi chưa giác ngộ chân lý của Đảng. Không phải ngẫu nhiên mà ngay phần đầu câu chuyện, Nguyễn Trung Thành đã viết về những đau thương trong chiến tranh. Cả cánh rừng xà nu không cây nào không bị thương tích. “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” đó là lời cụ Mết khi đã giác ngộ ánh sáng của Đảng. Tnú cường tráng khỏe mạnh, vững vàng như một cây xà nu lớn. Chính trong lòng ngực anh là một sức mạnh mênh mang hoang dại của núi rừng Tây Nguyên. Tnú có thừa gan góc đến bướng bỉnh, thừa lòng kiêu hãnh đến dư lòng tự ác. Mặc dù cái ác hiện hình bằng mũi dao, mũi súng hay ngọn lửa, Tnú vẫn không hề khuất phục trước kẻ thù.

Với tất cả sức mạnh về thể chất và tinh thần, Tnú đột phá giữ vòng vây kẻ thù. Nhưng trong tay không vũ khí nên bản thân cũng không cứu được vợ con cũng như những người dân làng Xô Man. Vợ con anh bị giết một cách thảm khốc. Bản thân anh bị giặc đốt cháy mười đầu ngón tay lại chính bằng ngọn lửa cháy từ nhựa xà nu. Điều này muốn nói lên rằng khi Tnú tay không đánh giặc thì ngay thứ nhựa xà nu thân thiết – cái khói chất thơm ngào ngạt như đọng nắng quê hương đó cũng trở thành ngọn lửa thiêu cháy đôi bàn tay vẫn chăm vun trồng, che chở cho rừng xà nu.

Bi kịch của Tnú cũng như bi kịch của những người dân làng Xô Man chỉ có thể giải thoát được khi họ đã “đồng khởi”, cầm vũ khí trong tay ào ạt xông lên chém gục kẻ thù. Dân làng Xô Man nói riêng và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung, khi cầm vũ khí đồng khởi thì không những cứu được cuộc đời của Tnú mà còn cứu được cả các buôn làng.

Là một nhân vật được Nguyễn Trung Thành mô tả vô cùng sống động, cuộc đời của Tnú lúc còn nhỏ cho tới khi trưởng thành đã có sự phát triển về ý thức cách mạng. Con đường giác ngộ cách mạng của Tnú đi từ tự phát cá nhân dần dần đến đấu tranh cách mạng khởi nghĩa, rồi khởi nghĩa vũ trang. Đó cũng là con đường đi của cả buôn làng Xô Man, của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Con đường đúng đắn đó là con đường nào khác.

Tnú là thành tựu xuất sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn Nguyên Trung Thanh khi xây dựng nhân vật Tnú, nhà văn đã kết hợp rất hài hòa giữa tính dân tộc và tính sử thi.

Như đã nói, Tnú là một nhân vật điển hình, anh tiêu biểu cho con người Tây Nguyên, tiêu biểu cho người Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ. Chất Tây Nguyên đã thấm đẫm vào nhân vật này từ ngôn ngữ cho đến hành động. Ngôn ngữ của Tnú thường ngắn gọn mộc mạc. Đó là ngôn ngữ đối thoại, nói sâu sắc như dao chém đá, chắc như đinh đóng cột. Hành động của Tnú kiên cường và mạnh mẽ. Từ dáng đứng của Tnú kiên quyết và mạnh mẽ. Từ dáng đi của Tnú cũng có khí thế ào ạt như núi thác cao nguyên.

Nhưng đáng lưu ý hơn cả, toàn bộ tính cách của nhân vật Tnú đều tiêu biểu cho những tính cách con người Tây Nguyên trong những năm bom đạn. Tnú trung thực, gan góc, trung thành tuyệt đối với Đảng. Người Tây Nguyên cũng vậy. Trong chiến tranh, Tây Nguyên đói là thế, khát là thế, người Tây Nguyên chịu nhiều mưa bom đạn. Máu của họ đã đỏ thấm trên mảnh đất này. Nhưng người Tây Nguyên vẫn một lòng trung thành với Đảng.

Cuộc đời của Tnú được kể lại qua lời cụ Mết trong sinh hoạt cộng đồng. Nó mang được tính truyền thống của người Tây Nguyên. Thông qua lời kể từ một già bản, nó làm cho nhân vật Tnú mang đậm sắc con người anh hùng dân tộc. Tnú là một tấm gương để cụ Mết giáo dục lớp trẻ buôn làng Xô Man.

Tnú chính là một nhân vật bước ra từ trong sử thi. Nhân vật ấy bao giờ cũng phải tiêu biểu cho sức mạnh của lí tưởng, sức mạnh của cộng động thường mang một vẻ đẹp kì vĩ. Tnú là một kiểu nhân vật sử thi bởi vì sức mạnh của Tnú chính là sức mạnh của Tây Nguyên bất khuất. Rực cháy trong huyết quản của anh là dòng máu anh hùng của người Tây Nguyên có từ thời Đam Săn, Xinh Nhã….

Khát vọng độc lập tự do của Tnú cũng chính là khát vọng tự do của đồng bào Tây Nguyên, dân tộc Việt Nam. Tnú có thể vững chãi như núi rừng Tây Nguyên. Trong sinh hoạt cùng với lời kể khan của đồng bào Tây Nguyên cho nên nội dung của câu chuyện này đã truyền tải được sự  kiện lịch sử mang tính sử thi.

Cần phải khẳng định tính sử thi trong văn học miền Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ là một đặc điểm nỗi bật và xuyên suốt qua nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn. Từ Hòn Đất của Anh Đức đến Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái cũng đều mang đậm tính sử thi.

Cuộc đời bi tráng của Tnú hiện lên qua những lời kể khan bên bếp lửa bập bùng trong một đêm thiêng với giọng trầm hùng của một già bản càng làm tăng thêm chất sử thi của hình tượng nhân vật này. Đọc truyện ngắn Rừng xà nu ta có cảm giác nhân vật Tnú có phần nào giống anh hùng dũng sĩ trong các trường ca cổ Tây Nguyên.

  • Kết bài:

Phát triển nhân vật Tnú lại là hình ảnh anh hùng Núp trong tiểu thuyết Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyễn Trung Thành với bút danh Nguyên Ngọc. Ở đây, Nguyễn Trung Thành đã xây dựng thành công nhân vật Tnú – một hình tượng nhân vật điển hình cho Tây Nguyên bất khuất. Với tiểu thuyết Đất nước đứng lên và với truyện ngắn Rừng xà nu Nguyễn Trung Thành đã là một trong những nhà văn đầu tiên mở cánh cửa sáng tác vào mảnh đất Tây Nguyên và xây dựng trên đó những lâu đài văn học nguy nga, tráng lên. Cho tới nay Nguyên Ngọc – Nguyễn Trung Thành vẫn là bút danh viết về để tài Tây Nguyên xuất sắc nhất.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.