Phân tích bài thơ Đàn Ghi ta của Lor-ca của nhà thơ Thanh Thảo

phan-tich-bai-tho-dan-ghi-ta-cua-lor-ca-cua-nha-tho-thanh-thao

Đàn Ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)

  • Mở bài:

Thanh Thảo là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Cùng với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Đạt, Trần Dần,… Thanh Thảo luôn nỗ lực cách tân thơ Việt Nam. Ông được công chúng đặc biệt chú ý bởi những bài thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến. Thơ ông là tiếng nói của trí thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại. Tuy nhiên ông muốn cuộc sống phải được cảm nhận  và thể hiện ở bề sâu, nên luôn khước từ sự biểu đạt dễ dãi

Bài thơ Đàn ghi ta của Lor – ca được rút ra trong tập Khối vuông ru – bích. Là một trong những sáng tác cho kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, mãnh liệt, phóng túng trong xúc cảm.

  • Thân bài:

“Đàn ghita của Lor-ca” là niềm ngưỡng mộ và đồng cảm sâu sắc của tác giả Thanh Thảo đối với Lor-ca, một nhà thơ hiện đại Tây Ban Nha, một nghệ sĩ tài năng, yêu tự do, lãng du mà đơn độc. Bài thơ là nỗi đau vô hạn trước số phận bi thảm của Lor-ca bởi những thế lực đen tối, niềm tin mãnh liệt về sự bất tử của tiếng đàn và thơ mà Lor- ca đã để lại.

Lor-ca sinh năm 1898 ở tỉnh Gra-na-đa, miền Nam Tây Ban Nha, được xem là nhà thơ lớn nhất Tây Ban Nha TK XX. Ngoài thơ, ông còn là tác giả của nhiều vở kịch nổi tiếng. Ông bị phe phát xít phran-cô giết trong thời gian đầu cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha.Xác ông bị chúng quăng xuống giếng. Thanh Thảo thực sự xúc động về Lor – ca, nhất là cái chết của ông để viết bài thơ Đàn ghi ta của Lor – ca – như một tuyên ngôn nghệ thuật của Lor-ca

Cây đàn ở đây được hiểu là biểu tượng sự nghiệp nghệ thuật của Lor-ca, là tổng hợp mọi đóng góp và cống hiến của ông trên lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật. Trước khi chết, ông có di chúc: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn.

Bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca của Thanh Thảo được viết theo phong cách thơ tượng trưng có pha màu sắc siêu thực. Chủ nghĩa siêu thực thể hiện trước hết là ở tiếng nói phản kháng của lịch sử. Khoảng năm 1922, ở châu Âu, các giá trị đạo đức và tinh thần truỳên thống đang đứng trước nguy cơ tan vỡ và sụp đổ, giới văn nghệ sĩ bị đặt trước một thực tế phũ  phàng. Họ không còn con đường nào khác ngoài cách chạy trốn vào giấc mơ, đi tìm hiện thực khác, cao hơn, siêu thực hơn. Nghĩa là nằm ngoài, nằm bên trên cái hiện thực đang tồn tại.

Về phương pháp sáng tác, các nhà siêu thực không ngần ngại gạt bỏ mọi quy tắc ngữ pháp, không tuân thủ các quy tắc về cú pháp, không sử dụng các dấu chấm câu, gạt bỏ những quy tắc lôgic của lí tính

Chủ nghĩa tượng trưng ra đời cuối TK XIX, đối lập với chủ nghĩa tự nhiên và hiện thực trong văn học. Thơ tượng trưng có cách thức biểu hiện không vần, đảo lộn ngữ pháp cổ điển, cắt rời câu chữ, tạo ra một trật tự mới.

Trong bài thơ, Lor –ca hiện lên là một người nghệ sĩ, tự do:

Những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn.

Tiếng đàn bọt nước là một hình ảnh tái tạo, có sức biểu đạt cao. Tiếng đàn không chỉ có chức năng tạo ra âm thanh, thành bản nhạc mà nó còn mang tính tạo hình qua hình ảnh bọt nước, được cảm thụ bằng thính giác và thị giác.

Hình ảnh áo choàng đỏ gắt gợi ta liên tưởng đến khung cảnh của một đấu trường. Cuộc đấu này không phải giữa người với bò nữa mà giữa người với người, giữa khát vọng dân chủ của công dân Lor- ca với nền chính trị độc tài, giữa khát vọng cách tân nghệ thuật với nền nghệ thuật già nua, giữa tự do bị bóp nghẹt và thể chế chính trị hà khắc.

Âm điệu Li la li la li la làm nhịp của tiếng đàn nghe đơn điệu. Đây cũng là yếu tốt tạo nên tính nhạc trong bài thơ nhàm làm hiện rõ hình ảnh con người đang:

Đi về miền đơn độc
Yên ngựa mỏi mòn

Người nghệ sĩ cô đơn đi tìm cái đẹp trong thế giới bạo tàn, vừa đi vừa lắc lư để nhận ra “vầng trăng chếch choáng” cũng đang lẽo đẽo theo mình trong hành trình đơn độc ấy. Nhìn theo góc độ nào cũng vẫn chỉ thấy con người tự do và nhà cách tân nghệ thuật mong manh và đơn độc.

Tiếng đàn là âm thanh ai cũng đã từng nghe giờ như bọt nước được tạo ra qua các cơn mưa. Trời mưa bong bóng phập phồng thì ai cũng từng thấy. Nhưng kết hợp thành tiếng đàn bọt nước thì lại tạo ra một cách nhìn khác lạ. Trong cái quen thuộc hiện ra cái xa lạ.

Cụm từ: “Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt” thì sẽ thấy tình hình chính trị ở bất ổn  ở Tây Ban Nha với những cuộc đàn áp khốc liệt của chính quyền độc tài ở đây. Có thể hiểu cả câu này,  Cuộc đấu tranh đang diễn ra từng phút, từng giờ và đơn điệu như nhịp  li la li la li la. Cả Tây Ban Nha phải đổ máu để giành lại quyền cơ bản của con người.

Lor-ca được giới thiệu là người chịu ảnh hưởng phần nào của trường phái ấn tượng: với tiếng đàn bọt nước – Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt – li-la-li-la-li-la – đi lang thang về ven biển đơn độc – với vầng trăng chếnh choáng – trên yên ngựa mỏi mòn. Sự tương phản hình ảnh cho ta thấy được hình ảnh về Lor-ca, cũng như gợi ta thấy những khung cảnh của một đấu trường. Đây là một đấu trường đặc biệt là cuộc đấu giữa khát vọng dân chủ của Lor-ca với nền nghệ thuật xưa cũ. Qua đó, ta thấy được hình ảnh đơn độc nhưng tự do.

Cái chết oan khuất của Lor-ca được miêu tả hết sức bi tráng:

Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lorca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du

Cái chết đột ngột, đau đớn của Lor-ca làm cho nhân dân Tây Ban Nha phải  kinh hoàng, bi phẫn trước hiện thực  phủ phàng, hành động độc ác, dã man của thế lực bạo tàn phát xít.

Tiếng đàn còn được diễn tả bằng màu sắc:

tiếng ghi-ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi-ta ròng ròng
máu chảy

Tiếng đàn ghi ta nâu (màu nâu là màu quen thuộc của chiếc vỏ đàn ghi ta, cũng là màu của đất→gợi nỗi buồn da diết, bi thương)

“Tiếng ghi ta xanh biết mấy” (màu xanh ở đây là màu của bầu trời) và  “Tiếng ghi ta tròn bọt nước” gắn với bầu trời cô gái ấy” (cô gái Di Gan), gắn với tình yêu thiêng liêng của Lor-ca dành cho cô gái. “Tiếng đàn ghi ta ròng ròng chảy máu”. Hình ảnh thị giác biểu thị sự đau đớn tột cùng.

Lor-ca mất đi khi sự nghiệp cách tân nghệ thuật còn dang dở, khích lệ lòng căm thù của nhân dân đối với bọn phát xít: Lor-ca không chỉ cô đơn trong sáng tạo , mà hình như mục đích đấu tranh chân chính  của ông chưa được nhiều người thấu hiểu, cho nên Tây Ban Nha vẫn “hát nghêu ngao”. Vì thế Tây Ban Nha trở nên kinh hoàng khi nghe tin Lor-ca bị giết haị.

Hình ảnh Lor-ca bị điệu về bãi bắn, lại đi liền với tiếng đàn. Sự kiện thảm khốc ấy tạo những cú sốc dây chuyền được diễn tả theo lối tượng trưng, liên tục chuyển đổi cảm giác, qua hệ thống những âm thanh vỡ ra thành màu sắc, hình khối, thành máu chảy.

Một cái chết đầy bất ngờ đến với Lor-ca. Dù đã dự đoán sớm, nhưng nó đến quá sớm. quá nhanh khiến vào lúc con người trong sạch đó không ngờ nhất.

Nỗi niềm xót thương cho Lor – ca:

không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng

Những câu thơ bộc lộ nỗi xót thương sâu sắc trước cái chết bi thảm của một thiên tài, cũng là nỗi xót tiếc cho hành trình cách tân dang dở không chỉ với bản thân Lor-ca mà còn với nền văn chương Tây Ban Nha. Đó là sự ngưỡng mộ và kính trọng của tác giả đối với thiên tài Lor-ca. Tiếng đàn không chỉ được diễn tả bằng âm thanh, mà còn được diễn tả  bằng màu sắc như cách thể hiện quen thuộc của các nhà siêu thực, cho dù trong thực tế, tiếng đàn chẳng có màu sắc nào cả.

Tiếng đàn ở đây là tiếng đàn hoài niệm gắn với tình yêu cao cả  mà hai người đã dành trọn cho nhau. Sự hoài niệm đột ngột cắt đứt bởi cụm từ “vỡ tan”: tiếng đàn vỡ tàn, bầu trời vỡ tan, tình yêu vỡ tan vị một trong hai người đã chết. Khi tiếng súng vang lên thì tiếng đàn cũng không còn nữa.

Thanh Thảo viết “không ai chôn tiếng đàn – tiếng đàn như cỏ mọc hoang…”. Câu thơ là một  nỗi xót thương cái chết của một thiên tài; xót xa cho hành trình cách tân dang dở không chỉ với bản thân Lor-ca mà còn với nền văn chương Tây Ban Nha. Lor-ca đã chết, nghệ thuật vắng đi một người dẫn đường. Nghệ thuật trở thành  cỏ mọc hoang? Không ai thực sự hiểu di chúc của Lor-ca.

Tác giả quay về với suy tư về cuộc giải thoát và cách giã từ của Lor – ca:

đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghi-ta màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt.

Lor-ca bơi sang thế giới bên kia, bơi qua dòng sông ngăn cách giữa người sống và người chết bằng “chiếc ghi ta màu bạc”. Thế giới khác có màu đặc trưng là màu bạc, màu của sự trong trắng, biểu tượng của sự trong sạch→ gợi sự cảm nhận tinh khiết và sự phản chiếu lung linh, vừa là  biểu tượng của sự chân thật, ngay thẳng không chịu quỳ gối trước bất công cường bạo và đồng thời là sự chân thành, trung thực với chính mình.

Các hành động: ném lá bùa, ném trái tim vào xoáy nước, vào cõi lặng yên đều mang ý nghĩa tượng trưng cho sự giã từ và giải thoát chia tay thực sự với những ràng buộc và hệ luỵ trần gian. Lorca chết nhưng cái chết thật sự là khi khát vọng của ông không ai tiếp tục, nó đau đớn hơn khi cái chết đó trở thành một cản trở cho sự cách tân văn chương đối với những người sau.

Vậy, hãy để cho Lor-ca có được giải thoát. Đường chỉ tay bé nhỏ, dòng sông rộng mênh mang, hay là phận người thì ngắn ngủi mà thế giới thì vô cùng. Lor-ca sẽ đi vào cõi khác với hình ảnh: “Lor-ca bơi sang ngang-trên chiếc ghi ta màu bạc”.

Có sự kết hợp giữa yếu tố thực và những hình ảnh ẩn dụ. Đó là sau khi sát hại Lor-ca, bọn giết người đã vứt thi thể ông xuống giếng, để hòng dấu giếm tội ác của mình. Ông nằm đó trở nên long lanh trong làn nước giếng. “Vầng trăng” cũng đến bên ông. Bây giờ không “chếch choáng” nữa mà nó long lanh soi tỏ một con người đã chết cho quê hương, cho sự hồi sinh của nền dân chủ. Thêm vào đó là những giọt nước mắt cảm thông, uất hận cũng long lanh trên mỗi mặt người. Nỗi đau được nhân lên trở thành một sức mạnh mới. Cái đẹp sáng tạo của người nghệ sĩ đã tìm được giá trị chân chính của nó.

Nhưng nỗi đau lớn nhất còn lại là: “Không ai chôn cất tiếng đàn”. Mặc dù tiếng đàn ấy đã chết cùng tác giả và cũng  không ai nỡ chôn tiếng đàn ấy. tiếng đàn ấy dường như được hồi sinh và được ví như “cỏ mọc hoang”. Nhớ lại lời di chúc: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. Cây đàn là sản phẩm của sự sáng tạo. Con người sáng tạo và cây đàn sáng tạo đã chết nhưng sản phẩm của sự sáng tạo ấy mãi mãi trường tồn, mãi mãi bền vững với sức sống của “cỏ mọc hoang”.

Lor-ca thực sự chết khi những khát vọng của anh ta không có ai tiếp tục. Nhưng cái chết đau đớn hơn của một nhà cách tân còn là khi tên tuổi và sáng tạo của anh ta được đem lên bệ thờ và trở thành một bức tường kiên cố cản trở sự cách tân văn chương của những người đến sau.

Tính chất khác biệt của bài thơ ngoài cấu trúc tự sự, theo mạch cảm xúc qua cái chết của Lor- ca, bài thơ còn mang dáng dấp của kết cấu nhạc giao hưởng, tạo ra ấn tượng về một bè trầm, mà tiếng đàn ghi ta trở thành một phần nhạc đệm của bản nhạc này. Chính vì thế chuỗi âm thanh được tạo ra qua cụm từ: li la li la li la trở thành hợp âm của khúc mở đầu và hợp âm sau các ấu khúc, tạo ra hình thức vĩnh thanh của bản giao hưởng. Việc cấy nhạc vào trong bài thơ này mang ý nghĩa của một sự kính trọng và tri âm.

  • Kết bài:

Đàn ghi ta của Lor – ca ngợi ca vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn và tài năng của Lor – ca – nhà thơ, nhà cách tân vĩ đại của văn học Tây Ban Nha và thế giới thế kỉ XX. Bài thơ thể hiện sự cảm nhận về vẻ đẹp bi tráng của hình tượng Lor-ca qua sự ngưỡng mộ, lòng đồng cảm và tiếc thương sâu sắc của Thanh Thảo.

theo https://duongleteach.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.