Phân tích Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

phan-tich-chu-nguoi-tu-tu-cua-nguyen-tuan

Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân

  • Mở bài:

Nguyễn Tuân ( 1910 – 1987) là gương mặt tiêu biểu của nền văn học dân tộc. Ông là cây bút tài hoa, uyên bác, có phong cách nghệ thuật độc đáo, có tình cảm thiết tha với cuộc đời và truyền thống dân tộc. Chữ người tử tù là tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Tuân giai đoạn trước cách mạng.

  • Thân bài:

Nét tài hoa trong phong cách Nguyễn Tuân:

Trong nền văn học Việt Nam, có thể xem Nguyễn Tuân là cái định nghĩa về người nghệ sĩ một cách trọn vẹn. Sự độc đáo đó được thể hiện ở: sự tài hoa và ngông. Ông là người am hiểu nhiều ngành nghệ thuật nên các tác phẩm của Nguyễn Tuân được xem xét nhìn nhận và đánh giá ở nhiều p.diện khác nhau, nhiều chiều hướng khác nhau tạo nên sự sinh động trong trang văn của ông. Nguyễn Tuân quan niệm cuộc đời là một hành trình, hành trình đi tìm cái đẹp và khẳng định cái đẹp. Bởi thế, cuộc đời ông gắn liền với nghệ thuật, gắn liền với những chuyến đi xa tìm kiếm cái đẹp ẩn giấu trong vạn vật, phong cảnh, con người.

Xây dựng tình huống truyện độc đáo, có một không hai:

Chữ người tử tù là một sáng tạo đọc đáo của Nguyễn Tuân. Đề tài không có gì mới mẻ nhưng cách khai thác đề tài và điểm nhìn nghệ thuật lại hết sức tài hoa. Một trong những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Tuân trong thiên truyện là đã xây dựng được tình huống truyện. Đó là cuộc gặp gỡ kì lạ, oái oăm giữa quản ngục, thầy thơ lại (những vị quan coi tù) và Huấn Cao (tên tử tù sắp đến ngày ra pháp trường).

Xét trên bình diện xã hội: Họ thuộc hai thế lực đối lập nhau. Viên quản ngục và thầy thơ lại là những người bảo vệ, duy trì trật tự xã hội đã thối nát còn Huấn Cao lại muốn đạp đổ trật tự xã hội ấy -> sự tương phản giữa một bên tầm thường thấp kém với bên kia cao cả, anh hùng.

Xét trên bình diện nghệ thuật: Họ đồng điệu, hòa hợp về tâm hồn, đều yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp và trọng nghĩa khí. Lúc đầu chưa hiểu nhau, còn nghi kị sau đó hiểu nhau và trở thành tri âm, tri kỉ. Đây là tình huống truyện độc đáo đã góp phần thể hiện rõ tính cách nhân vật và chủ đề của tác phẩm.

Cách xây dựng nhân vật đặc sắc:

Ngoài tình huống truyện độc đáo, gây cấn và giàu tính nghệ thuật, Nguyễn Tuân cũng hết sức thành coogn khi xây dựng các nhân vật điển hình, có sức lan tỏa mạnh mẽ.

Nhân vật viên quản ngục:

– Làm nghề coi ngục: đại diện cho cường quyền, bạo lực và lợi ích của nhà nước phong kiến => là công việc dễ khiến người ta trở nên lạnh lùng, nhẫn tâm, tàn ác

Khi nghe tin Huấn Cao sắp chuyển đến nhà lao:

Tâm trạng, thái độ của viên quản ngục như thế nào sau khi nghe được tin sắp nhận được một phạm nhân mới – Huấn Cao: Hỏi thầy thơ lại : “Huấn Cao? Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?” => băn khoăn, quan tâm, vừa mừng vừa lo. Đêm về trằn trọc suy nghĩ về HC và nghề nghiệp của mình : “ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương….”, muốn biệt đãi Huấn Cao

=> Thái độ lạ lùng, hiếm thấy của một viên quản ngục

Khi gặp Huấn Cao:

Viên quản ngục đã nhiều lần gặp Huấn Cao. Mỗi lần gặp gỡ, Viên quản ngục đều có thái độ hết sức khác thường, không giống với thái độ thường thấy của một cai ngục đối với tù nhân:

+ Lần đầu gặp phạm nhân: “nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành”, lòng “kiêng nể” và thái độ “biệt nhỡn” thể hiện rõ ràng trái với phong tục nhận tù thông thường.

+ Lần 2 : sau nửa tháng cho người mang rượu thịt vào buồng giam cho Huấn Cao. Lần này quản ngục vào với thái độ “khép nép”, xưng hô ngài – tôi

=> Việc hỏi han để đáp ứng. Rồi bị mắng, lễ phép lui ra với câu “xin lĩnh ý” . Đó là sự nNhún nhường cư xử điềm đạm, thể hiện một tâm hồn cao quý, sẵn lòng “quỳ gối trước hoa mai”

+ Lần 3: xin chữ:
Khát khao có được chữ Huấn Cao đã từ lâu rồi: “Chữ ông Huấn đẹp lắm, vuông lắm…báu vật trên đời” . Thế nên Quản ngục rất khổ tâm: “Có một ông Huấn trong tay…không biết làm thế nào mà xin được chữ” .

=>Viên quản ngục có nhân cách cao đẹp không dùng quyền thế để ép người.

+ Khi được cho chữ: khúm núm, xúc động, khóc “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”

=> Thái độ trân trọng, thành kính trước cái đẹp và cảm phục người tài. Quản ngục tự thu nhỏ mình lại để chiêm ngưỡng cái đẹp, cái tài song không phải là người tầm thường. Sự rụt rè, cam chịu vì quản ngục trân trọng và quý nể người tài: Huấn Cao. Quản ngục có nhân cách trong sáng bị vứt giữa đống cặn bã “là một thanh âm trong trẻo chen giữa bản đàn mà tất cả nhạc luật đều xô bồ”. Đặt nhân vật này giữa chốn ngục tù khiến nhân cách của nhân vật càng trở nên đáng quý. Quản ngục đại diện cho những người biết tôn trọng cái đẹp tuy không biết sáng tạo cái đẹp.

Nhân vật Huấn Cao

Huấn Cao hiện lên gián tiếp qua những lời đồn
+ Là người có “tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”
+ Có tài “bẻ khóa vượt ngục”
+ Nổi tiếng chống lại triều đình, bị kết án tử tù (là anh hùng nhưng thất thế)
=> Là một con người văn võ song toàn, hình mẫu lí tưởng trong xã hội lúc bấy giờ

Khi rơi vào cảnh ngục tù:
+ Khi vào ngục tù: “Huấn Cao lạnh lùng chúc mũi gông nặng…một trận mưa rệp”. Được biệt đãi vẫn “thản nhiên nhận rượu thịt”. “coi đó là hứng sinh bình” . Đó là tư thế hiên ngang, bất khuất, thái độ phớt lờ.
+ Khi quản ngục có ý nương nhẹ, hỏi han để đáp ứng thì Huấn Cao còn tỏ ra khinh bạc, nói những lời ngạo nghễ mà không sợ bị trả thù ( ngay cái chết cũng không sợ).

=>Huấn Cao là người có dũng khí, hiên ngang bất khất, không run sợ trước uy quyền

– Qua việc viết chữ và cho chữ:
+ Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ ông ít chịu cho chữ
+ Không vì quyền thế hay tiền bạc mà ép mình viết chữ, cả đời chỉ viết…
=>Huấn Cao là một nghệ sĩ có “thiên lương” trong sáng

+ Nhận lời cho chữ: xúc động nói như có lỗi “thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” => nhận ra lòng thành của quản ngục

=> Huấn Cao là người nhân hậu, trọng nhân nghĩa, khinh quyền thế
+ Cho chữ, khuyên quản ngục : “ở đây lẫn lộn ta khuyên thầy quản nên đổi chốn ở đi…”

=> Huấn Cao một nghệ sĩ tài hoa, chân chính. Là một anh hùng có khí phách hiên ngang. Tuy chí lớn không thành nhưng coi thường gian khổ và cái chết. Khí phách, phẩm chất của Huấn Cao tỏa sáng và nổi bật trên nền trời tăm tối của chốn lao tù.

Cảnh cho chữ và lời khuyên của Huấn Cao

a. Cảnh cho chữ:
– Thời gian: đêm khuya tăm tối
– Diễn ra trong khung cảnh: Buồng tối hẹp, ẩm. Tường đầy mạng nhện. Đất đầy phân chuột, phân gián. Khói tỏa cay xè

=>Mảnh đất chết – cái xấu, tăm tối, hôi hám, lạnh lẽo Ánh sáng đỏ rực của bó đuốc

Vuông lụa trắng tinh
Thỏi mực thơm
Nét chữ vuông tươi tắn

=>Cái đẹp hiện lên trong sáng, ấm áp

– Con người
+ Người cho chữ Người xin chữ
+ Cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô những nét chữ…

=>Bị giam hãm nhưng vẫn sáng tạo ra cái đẹp. Cái đẹp hiện lên đĩnh đạc, uy nghi.

=> Huấn Cao trở thành nghệ sĩ

Quản ngục: khúm núm
Thầy thơ lại: run run

=>Người có quyền thế, địa vị thì run sợ thành kính trước sự xuất hiện của cái đẹp.

=> Với thủ pháp đối lập, cái đẹp xuất hiện vị thế xã hội thay đổi, người tù vươn lên làm chủ tình thế, sáng tạo ra cái đẹp bằng tài hoa và nhân cách của mình. Cái đẹp xuất hiện bất chấp hoàn cảnh và cái đẹp đã chiến thắng cái xấu
tác giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật nào trong khi xây dựng cảnh cho chữ?

Lời khuyên của Huấn Cao :

Sau khi cho chữ, Huấn Cao đã phiên viên quản ngục:

“Ở đây lẫn lộn ta khuyên thầy quản nên thay chốn ở đi”
– “Chỗ này không phải là nơi treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn…”

Ý nghĩa lời khuyên:

+ Đây là di huấn của một người tử tù có trí – nhân – dũng. Biểu tượng của cái đẹp còn sót lại nên giàu chất triết lí và có sức lay động lòng người
+ Cái đẹp nảy sinh từ cái chết nhưng nó không thể chung sống cùng sự bạo tàn. Con người chỉ có quyền thưởng thức được cái đẹp khi giữ được thiên lương (bản chất tốt đẹp)

Lời khuyên của Huấn Cao đã tác động đến quản ngục hay chính tài năng, tâm hồn trong sáng của Huấn Cao đã làm sáng cả nhà lao đen tối, chinh phục mọi người xung quanh => Cái đẹp có sức cảm hóa, hướng con người đi đến cái thiện.

Vài nét đặc sắc về nghệ thuật
– Kết hợp giữa bút pháp tả thực và bút pháp lãng mạn
– Nhịp điệu câu văn khoan thai, chừng mực nhẹ nhàn mà thấm thía, từ Hán Việt kết hợp với từ thuần Việt tạo ngôn ngữ vừa cổ kính vừa đời thường
– Tình huống truyện độc đáo
– Ngôn ngữ: giàu tính triết lí

  • Kết bài:

Chữ người tử tù thành công trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Tình huống truyện trên đây góp phần thể hiện rõ những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Tác phẩm trở thành bài ca về cái đẹp, về những con người tài hoa sống đẹp, và sáng tạo ra cái đẹp; là bài ca về lòng quý trọng cái đẹp cái tài; bài ca về sự gặp gỡ giữa những tấm lòng đối với cái đẹp với nhân cách đẹp và những tấm lòng thiên lương với nhau.

theo https://duongleteach.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.