Hướng dẫn ôn tập Ngữ văn 9 – tuần 19 (Từ ngày 3/2 đến ngày 10/2/2020)

huong-dan-on-tap-ngu-van-9-tuan-19-tu-ngay-3-2-den-ngay-10-2-2020

Hướng dẫn ôn tập Ngữ văn 9 – tuần 19
(Từ ngày 3/2 đến ngày 10/2/2020)

Nội dung ôn tập:

I. Văn bản: Đọc lại các văn bản và nắm chắc nội dung, nghệ thuật của các văn bản:

– Bàn về đọc sách, trang 3/ sgk
– Tiếng nói của văn nghệ, trang 12/ sgk
– Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, trang 26/ sgk

II. Tiếng Việt:

– Khởi ngữ, trang 7/ sgk
– Các thành phần biệt lập, trang 18/ sgk

III. Tập làm văn:

– Phép phân tích và tổng hợp, trang 9/sgk
– Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống, trang 22/ sgk

* Chuẩn bị bài mới:

Văn bản: Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La phông-ten, trang 37/ sgk

Tập làm văn: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý, trang 34/ sgk

Hướng dẫn luyện tập:

I. Văn bản:

Bài: Bàn về đọc sách (Chu Quang Tiềm) trang 3/ sgk

Vài nét về tác giả: Chu Quang Tiềm (1897-1986), tên khai sinh là Tự Mạnh Thực. Ông là nhà mĩ học và lí luận học nổi tiếng của Trung Quốc.  Ông là danh nhân lớn, học vấn cao, là tác giả của nhiều bài chính luận nổi tiếng

Tác phẩm:

Xuất xứ:

– Bài luận này của Chu Quang Tiềm được trích trong “Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui nỗi buồn của việc đọc sách”, Bắc Kinh (1995), Trần Đình Sử dịch.

Bố cục: 3 phần

– Phần 1: (“Học vấn …Thế giới mới”): Tầm quan trọng của việc đọc sách
– Phần 2: (Tiếp đến “tiêu hao lực lượng”): Những khó khăn, thiên hứng sai lạc dễ mắc phải của việc đọc sách hiện nay
– Phần 3: (còn lại): Bàn về phương pháp đọc sách

Nội dung ghi nhớ:

Chu Quang Tiềm trong bài viết đã khẳng định đọc sách là con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn. Từ việc đưa ra những sai lầm trong việc đọc sách, tác giả hướng tới cách đọc sách khoa học, hợp lí cho con người

Nghệ thuật:

– Bài văn nghị luận đã đặt ra và bàn về một vấn đề có ý nghĩa trong đời sống. Luận điểm rõ ràng, thuyết phục. Bố cục bài viết hợp lí, chặt chẽ, các ý được dấn dắt tự nhiên. Lối viết giàu hình ảnh, nhiều so sánh thú vị

Bài: Tiếng nói của văn nghệ (Nguyễn Đình Thi), trang 12/ sgk

Tác giả: Nguyễn Đình Thi (1924-2003), là nhà văn, nhà phê bình văn học và là nhạc sĩ Việt Nam thời hiện đại.

Tác phẩm:

Xuất xứ:

– Tiểu luận “Tiếng nói của văn nghệ” được Nguyễn Đình Thi viết năm 1948, in trong cuốn “Mấy vấn đề văn học” (xuất bản năm 1956)

Bố cục: gồm 2 phần

– Phần 1: từ đầu bài cho đến “cách sống của tâm hồn”: Nội dung tiếng nói của văn nghệ.
– Phần 2: Tiếp theo đoạn 1 cho đến cuối bài: Văn nghệ mang lại nhiều giá trị thiết thực trong cuộc sống con người.

Nội dung:

– Bài tiểu luận bàn về nội dung của văn nghệ và sức mạnh kì diệu của nó đối với đời sống của con người, giúp con người được sống phong phú hơn và tự nhiên hoàn thiện nhân cách tâm hồn mình

Nghệ thuật:

– Bố cục chặt chẽ, hợp lí, dẫn dắt tự nhiên. Lối viết giàu hình ảnh, sử dụng nhiều dẫn chứng thơ văn, dẫn chứng thực tế, khẳng định các ý kiến, nhận xét, tăng sức hấp dẫn cho bài viết.

Bài: Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới (Vũ Khoan), trang 26/ sgk

Tác giả: Vũ Khoan (sinh năm 1937), là một nhà chính trị và ngoại giao xuất sắc của Việt Nam.

Tác phẩm:

Xuất xứ:

– Bài viết này đăng trên tạp chí Tia sáng năm 2001, in trong tập Một góc nhìn của trí thức, NXB Trẻ, Thành phố HCM, 2002

Bố cục:

– Phần 1 từ đầu đến “thiên niên kỷ mới”: Sự chuẩn bị bản thân con người là sự chuẩn bị quan trọng nhất trong hành trang bước vào thế kỉ mới
– Phần 2: tiếp theo cho đến “kinh doanh và hội nhập”: Tình hình thế giới và những nhiệm vụ của đất nước
– Phần 3: tiếp theo cho đến hết. Những điểm manh, điểm yếu của con người Việt Nam và nhiệm vụ của con người khi bước vào thế kỉ mới

Nội dung:

– Tác phẩm đã nêu ra bình luận cụ thể về những điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách và thói quen của người Việt Nam, từ đó, đưa ra những yêu cầu, đòi hỏi con người Việt Nam phải khắc phục điểm yếu để bước vào thế kỉ mới

Nghệ thuật:

– Bài viết đặt ra vấn đề nóng hổi, cấp thiết với cách nhìn nhận khách quan kết hợp với lí lẽ lập luận giản dị, chặt chẽ và thái độ tôn trọng đối tượng, tinh thần trách nhiệm của tác giả. Việc sử dụng ngôn ngữ báo chí gắn với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, cách nói giản dị, dễ hiểu, sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ sinh động, cụ thể và hàm súc cũng là những nét tiêu biểu về nghệ thuật của tác phẩm

II. Tiếng Việt:

Bài: Khởi ngữ, trang 7/ sgk

I. Đặc điểm và công dụng của khởi ngữ trong câu

Vị trí: Các từ ngữ in đậm đứng trước chủ ngữ

Về quan hệ với vị ngữ: từ ngữ in đậm không phải chủ ngữ trong câu, không có quan hệ với thành phần vị ngữ như chủ ngữ.

Các từ ngữ in đậm nói trên là khởi ngữ. Khởi ngữ đứng trước vị ngữ, nêu đề tài được nói đến trong câu, kết hợp phía trước với quan hệ từ về, đối với

II. Luyện tập

Bài 1 (Trang 8 sgk)

Các khởi ngữ:

a, Điều này
b, Đối với chúng mình
c, Một mình
d, Làm khí tượng
e, Đối với cháu

Bài 2 (trang 8 sgk)

Cụm từ “làm bài” trong câu (a ) từ hiểu, giải trong câu (b ) đóng vai trò trung tâm vị ngữ của câu. Viết lại hai câu trong bài tập trên bằng cách chuyển phần in đậm thành khởi ngữ (có thể thêm trợ từ “thì”)

– Làm bài, anh ấy cẩn thận lắm.
– Hiểu thì tôi hiểu rồi, nhưng giải thì tôi chưa giải được.

Bài: Các thành phần biệt lập, trang 18/ sgk

I. Thành phần tình thái

1. Từ ngữ thể hiện thái độ của người nói:

– Chắc: thể hiện tin cậy cao
– Có lẽ: thể hiện tin cậy nhưng thấp hơn so với từ “chắc”

2. Thành phần tình thái không quyết định đến nghĩa sự việc của câu. Cho nên khi bỏ đi từ ngữ chắc, có lẽ thì nội dung cơ bản của những câu trên không thay đổi

II. Thành phần cảm thán

Các từ ngữ “Ô”, “Trời ơi” trong hai câu không chỉ sự vật hay sự việc cụ thể nào. Đây là thành phần cảm thán có tác dụng bộc lộ tâm lí của người nói

1. Nhờ những thành phần tiếp theo mà ta hiểu được ý nghĩa cảm thán của từng câu
2. Từ ngữ in đậm để bộc lộ tâm lí người nói (vui, buồn, mừng, giận, hờn…)

Luyện tập

Bài 1 (trang 19 sgk)

– Thành phần tình thái: câu a (có lẽ), câu c (hình như) câu d (chả nhẽ)
– Các thành phần cảm thán: câu b (chao ôi)

Bài 2 (trang 19 sgk)

Mức độ tin cậy tăng dần:  Dường như – có vẻ như – hình như – có lẽ – chắc là – chắc hẳn – chắc chắn

Bài 3 (trang 19 sgk)

– Chắc chắn: Độ tin cậy cao nhất
– Hình như: độ tin cậy
– Tác giả dùng từ “chắc” vì nó đến mức tin cậy quá cao để sự việc xảy ra. Sự việc chỉ là phỏng đoán, diễn ra theo hai khả năng: theo tính huyết thống thì sẽ xảy ra, do thời gian sự thay đổi chưa biết được gì.

Bài 4 (Trang 19 sgk): học sinh tự viết đoạn văn.

III. Tập làm văn:

Bài: Phép phân tích và tổng hợp, trang 9/sgk

I. Tìm hiểu phép lập luận phân tích và tổng hợp

Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

a. Các dẫn chứng đoạn đầu nhằm rút ra nhận xét về vấn đề “ăn mặc chỉnh tề”, là sự đồng bộ, hài hòa giữa quấn áo với giày, tất… bằng cách lập luận phân tích với hai luận điểm chính :

– Ăn mặc phải phù hợp với từng công việc, từng hoàn cảnh.
– Ăn mặc phải phù hợp với đạo đức, giản dị và hài hòa với môi trường sống.

b. Bài viết đã dùng phép lập luận tổng hợp để “chốt” lại vấn đề “Thế mới biết, trang phục hợp văn hóa, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp”. Phép lập luận tổng hợp thường đặt ở cuối đoạn, cuối bài.

II. Luyện tập

Câu 1 (trang 10 sgk): Kĩ năng phân tích trong Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm :

Phân tích luận điểm Học vấn không chỉ là việc đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn bằng lập luận các lí lẽ :

– Học vấn là thành quả tích lũy của nhân loại được lưu giữ và truyền lại qua sách.
– Muốn tiến lên thì phải nắm vững những học vấn được lưu truyền.
– Nếu xóa bỏ hết cái thành tựu mà nhân loại đã đạt được trong quá khứ thì chúng ta có thể bị lùi lại điểm xuất phát, làm kẻ lạc hậu.

Câu 2 (trang 10 sgk):

Phân tích những lí do phải chọn sách để đọc :

– Sách nhiều khiến người ta đọc không chuyên sâu, tạo thói xấu hư danh, nông cạn.
– Dễ lãng phí thời gian do đọc những cuốn sách không có giá trị, dễ bị lạc hướng.

Câu 3 (trang 10 sgk):

Phân tích tầm quan trọng của cách đọc sách :

– Muốn tiếp cận tri thức nhanh nhất thì phải đọc sách.
– Đọc sách mà không chọn lọc thì đọc không xuể, kém hiệu quả.
– Đọc nhiều mà không chịu suy nghĩ sâu thì cũng không lợi ích gì.

Câu 4 (trang 10 sgk):

Vai trò của phân tích trong lập luận :

– Làm sáng tỏ luận điểm và tăng sức thuyết phục.
– Giúp người đọc, người nghe nhận thức đúng, hiểu đúng vấn đề.

Bài: Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống, trang 22/ sgk

I. Tìm hiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

a, Tác giả bàn luận về hiện tượng coi thường giờ giấc ở những công việc chung: bệnh phổ biến của xã hội, nhất là những nước kém phát triển, đang phát triển

– Bệnh lề mề có hại cho đời sống xã hội, bàn đến, chỉ ra những biểu hiện cũng cái hại nhằm phê phán, thức tỉnh con người, xã hội tiến bộ hơn

b, Nguyên nhân bệnh lề mề:

– Thiếu trách nhiệm, không coi trọng việc chung
– Thiếu tự trọng, không tôn trọng người khác

c, Tác hại của bệnh lề mề:

– Gây hại cho tập thể, lãng phí thời gian, mất thời gian của người khác
– Làm công việc trì trệ, gây ra tập quán không tốt
– Người viết thể hiện thái độ phê phán đối với hiện tượng lề mề coi thường giờ giấc, đó là thứ bệnh gây tác hại đối với sự tiến bộ của xã hội

d, Bố cục bài viết mạch lạc, chặt chẽ:

  • Mở bài: tác giả chỉ ra hiện tượng.
  • Thân bài: nguyên nhân, phân tích tác hại, hiện tượng.
  • Kết bài: Giải pháp khắc phục

Luyện tập

Bài 1: (trang 21 sgk)

Các sự việc, hiện tượng đáng biểu dương mà em thấy ở trường của mình hoặc ngoài xã hội

+ Văn hóa đọc
+ Trung thực trong học tập
+ An toàn giao thông
+ Vấn đề môi trường
+ Nhặt được của rơi trả cho người mất

– Các vấn đề thời sự, có tính xã hội, có thể sử dụng làm chủ đề thảo luận nghị luận: an toàn giao thông, vấn đề môi trường.

Bài 2 (trang 21 sgk)

Hiện tượng thanh niên hút thuốc lá cần viết bài nghị luận:

+ Đây là hiện tượng xã hội có tính thời sự, phổ biến trong đời sống xã hội
+ Hút thuốc có hại cho sức khỏe bản thân, mọi người xung quanh
+ Đề ra biện pháp xử lí hiện tượng trên.

* Chuẩn bị bài mới:

Văn bản: Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La phông-ten, trang 37/ sgk

Tập làm văn: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý, trang 34/ sgk

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.