Hướng dẫn ôn tập Ngữ văn 7 – tuần 19 (Từ ngày 3/2 đến ngày 10/2/2020)

huong-dan-on-tap-ngu-van-7-tuan-19-tu-ngay-3-2-den-ngay-10-2-2020

Hướng dẫn ôn tập Ngữ văn 7 – tuần 19
(Từ ngày 3/2 đến ngày 10/2/2020)

Nội dung ôn tập:

I. Văn bản

– Khái niệm tục ngữ, trang 3/ sgk

– Học thuộc: “Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất”, trang 3/ sgk. Nắm được nội dung, giá trị, hình thức của từng câu ( xem trong tập bài học).

– Học thuộc: “Tục ngữ về con người và xã hội”, trang 12/ sgk. Nắm được nội dung, giá trị và hình thức của từng câu ( xem trong tập bài học)

II. Tiếng Việt: Xem lại lý thuyết và bài tập bài “Rút gọn câu”, trang 14/ sgk

III. Tập làm văn: học thuộc phần ghi nhớ bài “Tìm hiểu chung về văn nghị luận”, trang 9/ sgk

Luyện tập:  Làm bài tập 3 trang 10/sgk

*Chuẩn bị bài mới:

  1. Văn bản: Soạn bài “ Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” các câu 1, 2, 3, 5 trang 26/ sgk
  2. Tiếng Việt: Chuẩn bị bài “Câu đặc biệt”, trang 27/sgk
  3. Tập làm văn: Chuẩn bị bài “Đặc điểm của văn bản nghị luận”, trang 18/sgk

Hướng dẫn ôn tập:

Hướng dẫn ôn tập Ngữ văn 7 – tuần 19

(Từ ngày 3/2 đến ngày 10/2/2020)

Nội dung ôn tập:

I. Văn bản:

Bài: Tục ngữ về thiên nhiên và lao động, sản xuất, trang 3/ sgk

1. Khái niệm tục ngữ:

Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, thường có vần điệu, nhịp điệu, hình ảnh thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt( tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội), được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hằng ngày. Đây là một thể loại văn học dân gian.

2. Tục ngữ về thiên nhiên:

Câu 1:

“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối”

– Nội dung: Tháng năm ngày dài đêm ngắn. Tháng mười, ngày ngắn đêm dài.

– Biện pháp nghệ thuật: Phép đối (đối xứng và đối lập). Phóng đại: Chưa nằm đã sáng, Chưa cười đã tối

– Ý Nghĩa: Kinh nghiệm quan sát thời gian của dân gian. Từ đó, có tính toán, sắp xếp công việc hoặc giữ gìn sức khoẻ trong mùa hè và mùa đông. Kinh nghiệm ấy giúp con người có ý thức chủ động để nhìn nhận, sử dụng thời gian, công việc, sức lao động vào thời điểm khác nhau trong một năm

Câu 2:

“Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”

– Nội dung: Trời nhiều sao ít mây sẽ nắng. Trời ít sao nhiều mây thì sắp mưa.

– Ý nghĩa: Kinh nghiệm quan sát thời tiết của dân gian. Nhận xét về cách dự đoán nắng, mưa dựa trên cơ sở xem sao trên trời. Từ đó góp phần sắp xếp công việc hợp lí.

Câu 3:

“Ráng mở gà, có nhà thì giữ”

– Nội dung: Kinh nghiệm về hiện tượng thời tiết của dân gian. Dự đoán bão, hiện tượng thiên nhiên dữ dội, hiểm hoạ cho dân nghèo, cho những đất nước ven biển. Nhìn ráng mỡ gà (ẩn dụ) thì trời sắp có bão.

– Ý nghĩa: Biết nhìn nhận thời tiết, có ý thức chủ động, giữ gìn nhà cửa, hoa màu…

Câu 4:

“Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt”

– Nội dung: Kinh nghiệm quan sát hiện tượng của dân gian. Thấy kiến bò nhiều lên chỗ cao vào tháng 7 (âm lịch), là dấu hiện điểm báo sắp có lụt.

– Ý nghĩa: Nhân dân có ý thức dự bão lũ lụt từ rất nhiều hiện tượng tự nhiên để chủ động phòng chống. Hé mở tâm trạng lo lắng, sợ hãi, bồn chồn của người nông dân.

=> Bốn câu đúc kết kinh nghiệm về thời gian, thời tiết, bão lụt, cho thấy phần nào cuộc sống vất vả, thiên nhiên khắc nghiệt ở nước ta.

b. Tục ngữ về lao động, sản xuất

Câu 5:

“Tấc đất, tấc vàng”

– Nội dung: Mỗi tấc đất cũng quý như mỗi tất vàng.

– Nghệ thuật: Biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, phóng đại

– Ý nghĩa: Đề cao giá trị của đất đai, vai trò của đất đai với người nông dân: Đất ở, đất cày, làm ăn, nuôi sống con người. Nhắc nhở con người phải biết quý trọng đất trồng và sieng năng lao động.

Câu 6:

“Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền”

– Nội dung: Nói về thứ tự các nghề, các công việc đem lại lợi ích kinh tế cho con người cao nhất trong xã hội xưa: Đầu tiên là nuôi cá (canh trì), tiếp đến là làm vườn (canh viên), sau cùng là làm ruộng (canh điền)

– Ý nghĩa: Giúp con người khai thác tốt điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế. Nhắc nhở con người về cách thức khai thác tốt nhất điều kiện tự nhiên và giá trị đất đai.

Câu 7:

“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”

– Nội dung: Muốn cây lúa phát triển tốt, quan trọng nhất là phải chăm đủ nước, tiếp đến là đủ phân, chuyên cần chăm bón, chọn giống tốt.

– Ý nghĩa: Tổng kết kinh nghiệm tròng lúa của người nông dân.

Câu 8:

“Nhất thì, nhì thục”

– Nội dung: Muốn cây trồng phát triển tốt, quan trọng nhất là gieo trồng đúng thời vụ (thì), thứ hai là làm đất tơi xốp, thuần thục, kĩ lưỡng.

– Ý nghĩa: Khẳng định tầm quan trọng của thời vụ và của đất đai đã được khai phá, sự chăm bón thuần thuộc của con người.

Tổng kết:

a. Hình thức:

– Ngắn gọn. Thường có vần, đối
– Giàu hình ảnh, lập luận chặt chẽ
b. Nội dung:
– Kinh nghiệm về thời gian, thời tiết, các hiện tượng bão, lụt.
– Kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp

  • Ghi nhớ SGK

II. Tiếng Việt:

Bài: “Rút gọn câu”, trang 14/ sgk

I. Thế nào là rút gọn câu?

Câu 1:

Câu (a): không có chủ ngữ, các cụm động từ làm vị ngữ.
Câu (b): chủ ngữ là chúng ta, cụm động từ học ăn, học nói, học gói, học mở là vị ngữ

Câu 2: Có thể thêm chúng tôi, người Việt Nam, chúng ta, các em, … rất nhiều các từ ngữ có thể làm chủ ngữ ở câu (a)

Câu 3: Chủ ngữ câu (a) được lược bỏ để cụm động từ vị ngữ “học ăn, học nói, học gói, học mở.” trở thành kinh nghiệm chung, lời khuyên chung, đúng với tất cả mọi người.

Câu 4:

– Câu “Rồi ba bốn người, sáu bảy người.” được rút gọn vị ngữ; vì người ta có thể căn cứ vào câu đứng trước để xác định được vị ngữ của câu này là: đuổi theo nó.
– Câu “Ngày mai.” được rút gọn cả chủ ngữ và vị ngữ; vì người ta có thể căn cứ vào câu đứng trước nó để hiểu được là: Tôi đi Hà Nội vào ngày mai. hoặc Ngày mai tôi đi Hà Nội.

II. Cách sử dụng câu rút gọn

Câu 1:

– Các câu “Chạy loăng quăng. Nhảy dây. Chơi kéo co.” thiếu thành phần chủ ngữ.
– Không phải bao giờ việc rút gọn câu cũng hợp lí. Tuỳ tiện lược bỏ thành phần câu như những câu trên khiến cho lời văn trở nên cộc lốc, khó hiểu.

Câu 2:

Câu “Mẹ ơi, hôm nay được điểm 10.” không có thành phần chủ ngữ. Nói như thế, câu trở nên khó hiểu (không biết ai được điểm 10); hơn nữa, nói với người bậc trên không nên xưng hô cụt lủn như vậy. Câu “Bài kiểm tra toán.” mặc dù thiếu vị ngữ nhưng có thể chấp nhận được nếu thêm vào những từ ngữ xưng hô lễ phép, chẳng hạn: Bài kiểm tra toán ạ! hoặc Bài kiểm tra toán mẹ ạ!

Câu 3: Như vậy, khi rút gọn câu ta cần lưu ý:

– Tránh làm cho người nghe (đọc) khó hiểu hoặc hiểu sai nội dung cần nói;
– Tránh sự khiếm nhã, thiếu lễ độ khi dùng những câu cộc lốc.

III. Luyện tập

Câu 1:

– Các câu (2), (3) là những câu rút gọn.
– Thành phần bị lược là thành phần chủ ngữ.
– Hai câu này, một câu nêu nguyên tắc ứng xử, một câu nêu kinh nghiệm sản xuất chung cho tất cả mọi người nên có thể rút gọn chủ ngữ làm cho câu gọn hơn.

Câu 2: Các câu rút gọn.

a. Rút gọn chủ ngữ:

+ Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
+ Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

Khôi phục:

Người bước tới và dừng chân đứng lại là Bà Huyện Thanh Quan, tác giả của bài thơ, và căn cứ vào câu cuối cách xưng hô “ta với ta”, nên chủ ngữ của hai câu rút gọn là ta:

+ Ta bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
+ Ta dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

b. Rút gọn chủ ngữ:

+ Đồn rằng quan tướng có danh,
+ Cưỡi ngựa một mình chẳng phải vịn ai.
+ Ban khen rằng: “Ấy mới tài”,
+ Ban cho cái áo với hai đồng tiền.
+ Đánh giặc thì chạy trước tiên,
+ Xông vào trận tiền cởi khố giặc ra (!)
+ Trở về gọi mẹ mổ gà khao quân!

Khôi phục:

+ Người ta đồn rằng quan tướng có danh,
+ Hắn cưỡi ngựa một mình chẳng phải vịn ai.
+ Vua ban khen rằng: “Ấy mới tài”,
+ Và ban cho cái áo với hai đồng tiền.
+ Quan tướng khi đánh giặc thì chạy trước tiên,
+ Khi xông vào trận tiền cởi khố giặc ra (!)
+ Quan tướng trở về gọi mẹ mổ gà khao quân!

Câu 3:

– Nguyên nhân của sự hiểu lầm: người khách và cậu bé không chung đối tượng đề cập, người khách hỏi về bố còn cậu bé lại trả lời về tờ giấy mà bố để lại.

+ Cậu bé dùng những câu thiếu chủ ngữ để trả lời người khách: “Mất rồi.”, “Thưa… tối hôm qua.”, “Cháy ạ.”
+ Từ chỗ hiểu nhầm chủ ngữ trong các câu nói của cậu bé là người bố của cậu, người khách cũng dùng những câu thiếu chủ ngữ để hỏi: “Mất bao giờ?”, “Sao mà mất nhanh thế?”, khiến sự hiểu lầm cứ tiếp diễn.

– Để tránh hiểu lầm như trong trường hợp trên, khi nói năng chúng ta phải tránh dùng những câu rút gọn trong những trường hợp ý nghĩa của ngữ cảnh không rõ ràng, gây hiểu lầm cho người nghe.

Câu 4:

Chi tiết có tác dụng gây cười và phê phán là những câu trả lời của anh chàng tham ăn tục uống.

– Đây → đáng lẽ phải là: Tôi là người ở đây.
– Mỗi → đáng lẽ phải là: Nhà tôi chỉ có một con.
– Tiệt → đáng lẽ phải là: Cha mẹ tôi đều đã qua đời.

Anh ta rút gọn một cách quá đáng nhằm mục đích trả lời thật nhanh, không mất thời gian ăn uống của mình.

Ý nghĩa: Phê phán thói tham ăn đến mất cả nhân cách, bất lịch sự với người khác, bất hiếu với bố mẹ.

III. Tập làm văn:

Bài “Tìm hiểu chung về văn nghị luận”, trang 9/ sgk

I. Nhu cầu nghị luận và văn bản nghị luận

1. Nhu cầu nghị luận

a. Các câu hỏi về vấn đề tương tự :

– Vì sao con người cần bảo vệ biển và các loài động vật sống ở biển ?
– Tại sao em cần phải hiếu thảo với cha mẹ ?

b. Khi trả lời các câu hỏi như vậy, em không thể trả lời bằng các kiểu văn bản như tự sự, miêu tả, biểu cảm mà buộc phải dùng lí lẽ, dẫn chứng để giải thích, thuyết phục người khác.

c. Hằng ngày trên các phương tiện truyền thông, em thường gặp những kiểu văn bản nghị luận như lời phát biểu, phản biện, …

2. Thế nào là văn bản nghị luận ?

a. Bác Hồ viết bài này với mục đích kêu gọi mọi người đi học nâng cao dân trí.

– Bài viết nêu ra những ý kiến với các luận điểm :

+ Sự cần thiết phải nâng cao dân trí – “Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí …” : dân ta đã từng bị thực dân Pháp cai trị và thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề cai trị ; chỉ ra lợi ích của việc học.
+ Kêu gọi mọi người cùng tham gia chống nạn thất học – “Mọi người Việt Nam … biết viết chữ Quốc ngữ” : kêu gọi mọi người cùng nhau chống nạn thất học.

b. Những lí lẽ được nêu :

– Tình trạng thất học, lạc hậu của 95% dân số.
– Để xây dựng đất nước trước hết phải biết chữ.
– Việc chống thất học là việc có thể thực hiện được.

c. Cũng có thể thực hiện mục đích bằng văn miêu tả, kể chuyện, biểu cảm. Tuy nhiên sẽ khó khăn hơn và không đạt hiệu quả cao như văn nghị luận.

II. Luyện tập

Câu 1:

a. Đây là bài văn nghị luận. Vì bài nêu lên một ý kiến, luận điểm.

b. Tác giả đề xuất ý kiến : “Tạo được thói quen tốt là rất khó. Nhưng nhiễm thói quen xấu thì dễ. Cho nên mỗi người, mỗi gia đình hãy tự xem lại mình để tạo ra nếp sống đẹp, văn minh cho xã hội ?”

Lí lẽ và dẫn chứng :

– Trong cuộc sống có thói quen tốt (dậy sớm, đúng hẹn, giữ lời hứa, đọc sách…) và xấu (hút thuốc lá, hay cáu giận, mất trật tự).
– Có người biết phân biệt tốt và xấu nhưng đã thành thói quen nên khó bỏ khó sửa (thói quen hút thuốc lá gây thói quen gạt tàn bừa bãi …)
– Tác hại của thói quen xấu (mất vệ sinh khu dân cư, …)
– Khả năng tạo thói quen tốt và nhiễm thói quen xấu.

c. Bài viết này nhằm giải quyết vấn đề trong thực tế. Em đồng ý với ý kiến của bài viết. Vì vấn đề rất có ý nghĩa đối với mọi người, xã hội và ý kiến rất đúng đắn.

Câu 2:

– Đoạn 1 (2 câu đầu) : Nêu vấn đề, giới thiệu.
– Đoạn 2 (Hút thuốc lá … rất nguy hiểm) : Những thói quen xấu và tác hại của nó.
– Đoạn 3 (Còn lại) : hướng phấn đấu cho mỗi người, mỗi gia đình.

Câu 3 (trang 10 sgk Ngữ Văn 7 Tập 2): Sưu tầm hai đoạn văn nghị luận.

– Đoạn 1 :

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Trích Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Hồ Chí Minh)

– Đoạn 2 :

“Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng “đẹp”, một thứ tiếng “hay”. Nói thế có nghĩa là nói rằng : tiếng Việt là một thứ tiếng hài hòa vè mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế cũng có nghĩa là nói rằng : tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kì lịch sử.” (Trích Sự giàu đẹp của tiếng Việt của Đặng Thai Mai)

Câu 4:

Bài văn “Hai biển hồ” là một văn bản nghị luận. Dù có yếu tố tự sự, nhưng yếu tố tự sự cũng chỉ với mục đích bàn luận về hai cách sống : ích ỷ và chan hòa.

Chuẩn bị bài mới:

  1. Văn bản: Soạn bài “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” các câu 1, 2, 3, 5 trang 26/ sgk
  2. Tiếng Việt: Chuẩn bị bài “Câu đặc biệt”, trang 27/sgk
  3. Tập làm văn: Chuẩn bị bài “Đặc điểm của văn bản nghị luận”, trang 18/sgk

Đánh giá bài viết:

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị tiết lộ.