Giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nam Cao

gioi-thieu-tac-gia-nam-cao

Tác giả Nam Cao

Vài nét về cuộc đời và con người Nam Cao:

* Cuộc đời:

Nam Cao sinh năm 1917 mất năm 1951. Tên khai sinh Trần Hữu Tri. Quê quán: Đại Hoàng, Lí Nhân, Hà Nam -> đi vào sáng tác của Nam Cao với tên Vũ Đại.

Nam Cao sinh ra trong một gia đình gia đình trung nông, nghèo và đông con. Tuy là gia đình tri thức nhưng nghèo  và luôn túng thiếu.

Nam Cao học hết bậc Thành chung, sau đó vào Sài Gòn và bắt đầu sáng tác. Ở Sài Gòn một thời gian, nam Cao trở về quê, rồi lên Hà Nội dạy học tư, viết văn và làm gia sư.

Năm 1943, ông tham gia Hội văn hóa cứu quốc. Năm 1951, hi sinh trên đường đi công tác tại bót Hoàng Đan, liên khu III.

Cuộc đời Nam Cao có ý nghĩa tiêu biểu cho lớp tri thức đương thời: xuất thân từ nông thôn nghèo khổ. Mới bước vào đời thì va đầu với hiện thực tàn nhẫn. Ông thất vọng và sống cuộc đời lay lắt. Tham gia cách mạng là sự chuyển biến tất yếu của các nahf văn hiện thực vốn rất quan tâm đến đời sống và các sự kiện chính trị.

Con người:

Nam Cao có bề ngoài lạnh lùng, vụng về, ít nói nhưng đời sống nội tâm phong phú. Ông luôn luôn có ý thức đấu tranh với bản thân để vươn tới lẽ sống cao đẹp. Tinh thần đấu tranh trung thực để tự vượt mình, cố khắc phục tâm lí và lối sống tiểu tư sản để hòa hợp mình với thời đại. Nam Cao luôn có ý thức vươn tới hoàn thiện nhân cách, bản thân và tìm kiếm một cuộc sống có ý nghĩa.

Nam Cao là nhà văn có một tấm lòng đôn hậu, gắn bó tha thiết với quê hương và người nghèo khổ bị áp bức trong xã hội cũ. Vốn có nhiều khát khao lớn nhưng thực tại cuộc sống quá khắc nghiệt khiến Nam Cao có tâm trạng bất hoà sâu sắc đối với xã hội đương thời. Đó là một xã hội tàn bạo, bất công, bóp nghẹt sự sống. Bởi thế, tác phẩm của Nam Cao là nỗi bi phẫn của người trí thức có ý thức về sự sống mà không được sống.

Sự nghiệp văn học:

Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn (trước Cách mạng), một nhà báo kháng chiến dũng cảm (sau Cách mạng), một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ 20. Nam Cao có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20.

Quan điểm nghệ thuật:

Trước cách mạng tháng Tám:

Về nội dung phản ánh: Tác phẩm phải phản ánh chân thực cuộc sống con người, phục vụ cho đời sống con. người. “Chao ôi! … lầm than” (Trăng sáng). Nam Cao xác định mối quan hệ chặt chẽ giữa nghệ thuật và đời sống.

Về Nội dung tư tưởng: Tác phẩm phải mang giá trị nhân đạo sâu sắc “Nó phải …. gần người hơn” (Đời thừa). Nam Cao cho rằng văn chương có khả văng nhân đạo hóa con người. Đó là một thiên chức cao cả của văn học.

Về hình thức:

+ Nhà văn chân chính phải luôn luôn đổi mới, sáng tạo “Văn chương … chưa có(Đời thừa)
+ Nhà văn chan chính phải có trách nhiệm với ngòi bút: “sự cẩu … đê tiện” (Đời thừa)

Quan niệm sáng tác “vị nhân sinh”, tiến bộ, toàn diện, hướng đến cái CHÂN – THIỆN – MỸ

* Sau cách mạng:

Nghệ thuật phải phản ánh cuộc sống và phục vụ kháng chiến – “Đôi mắt”. Đây là một quan điểm nghệ thuật tiến bộ và sâu sắc.

Các đề tài chính:

Trước Cách mạng tháng tám

*Đề tài về người trí thức:
– Tác phẩm: Sống mòn, Đời thừa, Giăng sáng, Quên điều độ,…

– Nội dung:
+ Miêu tả chân thực cuộc sống tạm bợ, lay lắt của tầng lớp trí thức
+ Đi sâu vào phân tích bi kịch tinh thần của tầng lớp trí thức ( Họ vốn là những người sống có nhân cách, giàu ước mơ, hoài bão nhưng thực tế cuộc sống cơm áo gạo tiền đè nặngaoXH bất công nên họ những ước mơ, hoài bão của họ bị vùi dập, phũ phàng.  rơi vào bi kịch -> Tố cáo phi nhân đạo tàn phá tâm hồn con người.(giá trị hiện thực). Tuy nhiên họ luôn đấu tranh để sống một cuộc đời hữu ích bằng tình nhân ái -> niềm thông cảm của tác giả. (giá trị nhân đạo)

* Đề tài người nông dân:
– Tác phẩm: Trẻ con không được ăn thịt chó, Chí Phèo, Lão Hạc, Một bữa no,….

– Nội dung:
+ Họ vốn là những người có bản chất lương thiện, hiền lành, chịu thương chịu khó có ước mơ chân chính nhưng cuộc đời bị ức hiếp, chà đạp, vùi dập, khổ vì đói, thậm chí bị hủy diệt cả nhân hình và nhân tính. Thậm chí ông viết cả những thói hư tật xấu của họ,… Cuộc sống của họ bế tắc rơi vào bi kịch.
+ Tuy vậy viết về họ tác giả luôn bênh vực quyền sống, nhân phẩm, phát hiện, khẳng định bản chất tốt đẹp của ho dù đã bị XH dồn đến bước đường cùng, qua đó tố cáo xã hội bất công tàn bạo.

Đánh giá: Nhìn chung dù viết về đối tượng nào Nam Cao đề thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc. Quan tâm, nâng niu, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của họ . Đặc biệt NC vô cùng trăn trở day dứt trước tình hình con người trạng con người bị rơi vào thảm cảnh sống mòn, bị xói mòn về nhân phẩm, thậm chí bị hủy diệt cả nhân tính.

Sau cách mạng:

Nam Cao là cây bút tiêu biểu của văn học giai đoạn kháng chiến chống Pháp. (Nhật kí ở rừng, Đôi mắt, tâp kí sự Chuyện biên giới..). Ông lao mình vào kháng chiến, tự nguyện làm anh tuyên truyền vô danh cho cách mạng. Các tác phẩm của ông luôn luôn là kim chỉ nam cho các văn nghệ sỹ cùng thời.

Phong cách nghệ thuật:

– Bút pháp miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật đặc sắc, lôi cuốn, hấp dẫn người đọc.
– Câu văn giàu tính triết lý sâu sắc, mang tính tuyên ngôn nghệ thuật.
– Xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, mỗi nhân vật đại diện cho một lớp người trong XH
– Giọng văn lạnh lùng, buồn thương, chua chát nhưng thấm đượm chất trữ tình
– Ngôn ngữ trong sáng, giản dị.
-Viết về những cái nhỏ nhặt hằng ngày mà đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội lớn, có tầm triết lí sâu sắc.

Tuyên ngôn sáng tác:

– Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than. (Trăng sáng)

– Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó chứa đựng một cái gì đó lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng tình thương lòng bác ái, sự công bình…. Nó làm người gần người hơn. (Đời thừa)

– Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có. Sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện (Đời thừa).

–  Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có.

duongleteach.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.