Giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Viếng lăng Bác

gia-tri-noi-dung-va-nghe-thuat-bai-tho-vieng-lang-bac

Năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ. Bài thơ “Viếng lăng Bác” được sáng tác trong dịp đó và in trong tập thơ “Như mấy mùa xuân” (1978).

Cảm xúc bao trùm của tác giả : niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn xót xa khi vào viếng lăng Bác.

Mạch cảm xúc đi theo trình tự vào viếng lăng Bác: đứng bên ngoài lăng nhìn thấy hàng tre xanh, dòng người); Khi đi vào bên trong, xúc động thấy Bác trong giấc ngủ bình yên; khi sắp phải trở về lòng mong ước mãi bên Bác.

Giá trị nội dung: Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và của mọi người khi vào lăng viếng Bác.

Giá trị nghệ thuật:

Bài thơ có giọng điệu phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúc vừa trang nghiêm sâu lắng vừa tha thiết, đau xót, tự hào, thể hiện tâm trạng xúc động của nhà thơ vào lăng viếng Bác.

Bài thơ được viết theo thể thơ 8 chữ nhưng không câu nệ vào quy định cũ nên có dòng 7 chữ, 9 chữ. Khổ thơ không cố định có khi liền khi cách nhịp. Nhịp thơ chậm, diễn tả sự trang nghiêm, thành kính, lắng đọng.

Nhiều hình ảnh thơ sáng tạo, độc đáo. hình ảnh cây tre – biểu tượng của sức sống mạnh mẽ và tấm lòng kiên trung, ý chí bất khuất của con người Việt Nam một lần nữa được khác họa thành công. Hình ảnh dòng nười vào viếng lăng Bác được hình tượng hóa như tràng hoa dâng lên tuổi Người hết sức độc đáo và ấn tượng. Thủ pháp ẩn dụ: “mặt trời trong lăng” là một phát hiện mới mẻ của nhà thơ nhằm tôn vinh lãnh tụ và khẳng định sức sống trường tồn của dân tộc.

Cảm nhận về bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương

  • Mở bài

“Bác nhớ miền Nam nối nhớ nhà
Miên Nam mong Bác noi mong cha”

Thuở sinh thời, Bác Hồ luôn tâm niệm “Miền Nam ở trong trái tim tôi” và nhân dân miền Nam cùng mong ước được gặp tận mặt vị lãnh tụ kính yêu của đất nước. Thế nhưng, ngày tái ngộ chưa kịp đến thì đất mẹ đã đón Bác về, để lại lòng người noi tiếc nhớ khôn nguôi. Cho đến một năm sau ngày giải phóng, Viền Phương – nhà thơ đã từng tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ tại Nam Bộ, đã ra Hà Nội để thăm lăng Bác. Cảm xúc trào dâng, ỏng đã viết nên bài thơ Viếng lăng Bác.

  • Thân bài:

Bài thơ Viếng lăng Bác được Viễn Phương viết vào năm 1976 (in trong tập Như mãv mùa xuân — 1978), khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng xong, đất nước thống nhất, đồng bào miền Nam đã có thể thực hiện được mong ước ra viếng Bác. Bài thơ thể hiện, niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng. biết ơn và tự hào xen lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác. Cảm hứng bao trùm trong bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nồi đau xót khi tác giả từ miền Nam ra viếng lăng Bác.

❖ Khổ thơ 1:

Cảm xúc của một người con đã đi từ một nơi rất xa cả về không gian và thời gian, giờ đây giờ phút được trở về bên Bác đã được diễn tả sâu sắc trong khổ thơ này:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.

Mở đâu bài thơ là những lời tâm tình đây thân thương, xúc động của đứa con miền Nam khi đứng trước lãng Bác.

+ Cách xưng hô “Con – Bác ” mang đậm chất miền Nam, thể hiện sự ngọt ngào thân thương, cách xưng hô quen thụộc và riêng biệt của nhân dân Việt Nam dành cho lãnh tụ vĩ đại của mình, bởi vì “Người là Cha, là,Bác, là Anh.. “

+ Cách nói “con ở miền Nơm ” vừa thể hiện niềm tự hào của người con miền Nam thành đồng Tổ quốc “đi trước về sau ” trong cuộc kháng chiến vừa bao hàm nồi đau lớn lao khi đất nước thống nhất mà Bác lại vĩnh viễn ra đi.

+ Từ “thăm” giản dị mà xúc động vừa giảm nhẹ nỗi đau đớn xót xa, vừa như khẳng định trong lòng mình: Bác Hồ, vị cha già kính yêu vẫn còn đó. Tâm thế của thi nhân lúc này như người con đi xa lâu ngày, nay được gặp lại bóng dáng người cha thân yêu.

—► Câu thơ gợi lên tâm trạng đặc biệt thiêng liêng, đây ý nghĩa của cuộc viếng lăng Bác. Đó là tâm trạng không chỉ của một người con, mà còn là tâm trạng của cả một miền Tổ quốc đã vắng mặt khi người cha chung của dân tộc ra đi.

Hàng tre có thực bên lăng Bác được nhìn với con mắt liên tưởng nhân hoá và tưởng tượng vì thế thành hàng tre xanh dân tộc “xanh xanh Việt Nam” thành những chiến sĩ trung kiên bất chấp bão táp, mưa sa vẫn “đứng thẳng hàng ”. Lăng Bác bỗng thật gần gùi, thân thuộc như một làng quê sau luỹ tre xanh. Hàng tre còn mang ý nghĩa biểu tượng: một dân tộc cần cù, hiên ngang, mạnh mẽ, xếp thành hàng cùng với các chiến sĩ vệ binh canh giấc ngủ cho Người. Đến với lăng Bác, chúng ta gặp được dân tộc và nơi Bác yên nghỉ đời đời cùng xanh mát bóng tre của làng quê Việt Nam.

Từ hình ảnh hàng tre bát ngát trong sương quanh lăng Bác, nhà thơ đã suy nghĩ, liên tưởng và mở rộng khái quát thành một hình ảnh hàng tre mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng cho sức sống bền bỉ, kiên cường, bất khuất của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Dù gặp bão táp mưa sa – gặp những thăng trầm trong cuộc kháng chiến cứu nước và giữ nước, vẫn “đứng thẳng hàng”, vẫn đoàn kết đấu tranh, chiến đấu anh hùng, không bao giờ khuất phục.

❖ Khổ thơ 2:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

Nhà thơ theo dòng người xếp hàng vào lăng viếng Bác, chân bước đi mà lòng ngầm nghĩ, nghĩ về Bác. Sự kết hợp hai hình ảnh thực và ẩn dụ đặc sác đây ý nghĩa: hình ảnh mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là mặt trời của thiên nhiên, của tạo hóa mọc ở phương Đông lặn ở phương Tây.

Hình ảnh “mặt trời đi qua trên lăng” là hình ảnh thực. Đólà mặt trời thiên tạo, là hành tinh quan trọng nhất của vũ trụ, nó gợi ra sự kìvĩ, sự bất tử, vĩnh hằng. Mặt trời là nguồn cội của sự sống, ánh sáng.

Hình ảnh “mặt trời trong lăng” là một ẩn dụ đầy sáng tạo,độc đáo – đó là hình ảnh của Bác Hồ. Giống như “mặt trời”, Bác Hồ cũng là nguồn ánh sáng, nguồn sức mạnh. “Mặt trời” – Bác Hồ soi đường dẫn lối cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước.

Điệp từ “ngày ngày ” khiến cho nhịp đi của thiên nhiên đã hòa vào nhịp đi “của dòng người nối nhau vào lăng viếng Bác. Thiên nhiên và con người hòa vào nhau, cùng hướng về một con người bất tử.

Từ hình ảnh dòng người nối nhau vào viếng lăng Bác, nhà thơ đã sáng tạo nên một một hình ảnh so sánh ẩn dụ đẹp đay sáng tạo “Kết tràng hoa dáng bày mươi chín mùa xuân “. Đó là tràng hoa được kết bằng những “đóa hoa người” để dâng lên “bảy mươi chín mùa xuân ”. Câu thơ lại có thêm một hình ảnh hoán dụ độc đáo khác: bảy mươi chín mùa xuân chỉ cuộc đời của Bác – một cuộc đời thật đẹp đã dệt nên mùa xuân đất nước. Hình ảnh hoán dụ này vừa đẹp vừa mới lạ, thể hiện tình cảm thương nhớ, kính yêu và sự gắn bó của nhân dân với Bác.

Tất cả những hình ảnh thơ trên biểu lộ tấm lòng thành kính, và biết ơn vô hạn của nhà thơ, của nhân dân đối với Bác Hồ.

❖ Khổ thơ 3:

Vào trong lăng, khung cảnh và không khí như ngưng kết cả thời gian, không gian. Hình ảnh thơ đã diễn tả thật chính xác, tinh tế sự yên tĩnh, trang nghiêm cùng ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo của không gian trong lăng Bác.

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim.

Khi bước vào lăng Bác, xúc động đến nghẹn ngào, nhà thơ cảm thấy như Bác vần còn ờ cùng ta. Câu thơ giản dị vô cùng mà diễn tả được hình ảnh Bác đang thanh thản yên nghỉ sau cả một đời hoạt động cách mạng, cổng hiến cho.dân cho nước.

“Bác nằm trong giấc ngủ bình vén
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiển “

Với sự liên tường phong phú, dưới ánh sáng của những ngọn đèn mờ ảo dịu nhẹ, với không gian yên tĩnh trang nghiêm trong lăng, nhà thơ tưởng tượng ánh sáng đang tỏa xung quanh như ánh sáng của “vầng trăng ”. Hình ảnh “vầng trăng sáng dịu hiền” gợi cho chúng ta nghĩ đến tâm hồn, cách sống cao đẹp, thanh cao, sáng trong của Bác và những vần thơ tràn ngập ánh trăng của Người. Trăng với Bác đã từng vào thơ Bác trong nhà lao, trên chiến trận, giờ đây trăng cũng đến để giữ giấc ngủ ngàn thu cho Người. -> Chỉ có thể bằng trí tưởng tượng, sự thấu hiểu và yêu quí những vẻ đẹp trong nhân cách của Hồ Chí Minh thì nhà thơ mới sáng tạo nên được những ảnh thơ đẹp như vậy!

Lời thơ êm ái nhẹ nhàng, giọng thơ gợi niềm xúc động chân thành, đau xót. Tâm trạng xúc động của Viễn Phương như được nhân lên bằng hình ảnh ẩn dụ sâu xa:

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim.

Với hình ảnh vầng trăng, mặt trời, trời xanh, dụng ý của nhà thơ muốn tạo ra một hệ thống hình ảnh vũ trụ để ví với Bác. Đó đều là những cái mênh mông, bao la, bất diệt của vũ trụ được nhà thơ ví với cái bao la, rộng lớn trong tình thương của Bác. Đó là những vật thể có ý nghĩa trường tồn gần như là vĩnh viền nếu so với đời sống của mỗi cá nhân con người. Đó cũng là biểu hiện vĩ đại, rực rỡ, cao siêu của con người và sự nghiệp của Bác. Bác sống mãi với đất nước Việt Nam, hồn Bác là hồn dân tộc. Bác hóa thân vào thiên nhiên của non sông đất nước, tên tuổi của Bác gắn liền với nước Việt Nam: “Việt Nam là Bác, Bác là Việt Nam ”

+ Điệp từ gợi tả “nhói” đã diễn tả nỗi đau mãnh liệt ập đến bất ngờ vượt trên mọi lí lẽ. Đây không chỉ là nỗi đau của nhà thơ mà còn là nỗi đau của mồi chúng ta khi nghĩ về sự ra đi của Bác. Đó là lời giãi bày rất thực, xuất phát từ những tinh cảm mãnh liệt của nhân dân, đồng bào đối với Bác. Thông thường, trong hoàn cảnh tương tự, việc sừ dụng hình ảnh ẩn dụ là một thủ pháp nhằm giảm nhẹ nỗi đau tinh thần. Song ở đây, dường như nôi đau quá lớn khiến cho những hình ảnh ẩn dụ trở nên không còn ý nghĩa, chỉ còn cách diễn tả trực tiếp tâm trạng mới có thể giúp nhà thơ giãi bày tình cảm của mình.

❖ Khổ thơ 4:

Nghĩ đến ngày mai về miền Nam, xa Bác, xa Hà Nội, tình cảm của nhà thơ không kìm nén, ẩn giấu trong lòng mà được bộc lộ thể hiện ra ngoài:

Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…

Bài thơ khép lại với nồi đau trào nước mắt, với niềm luyến tiếc khôn nguôi trong giờ phút chia tay Bác, trở về miền Nam. Cách nói “Mơi về miền Nam thương trào nước mắt’ hết sức mộc mạc, bộc trực mang đậm phong cách của người dân Nam Bộ. Chi một tiếng “thương” thôi cùng đã gói trọn cả tâm lòng người miên Nam dành cho Bác. “Thương” ở đây là kính, là yêu, là trân trọng đức hy sinh, sự tận tụy của Bác với dân với nước, thươg đến “trào nước mắt ”.

Điệp từ “muốn làm” cùng với nghệ thuật liệt kê một loạt hình ảnh bộc lộ ước muốn, nguyện vọng của nhà thơ: muốn làm con chim để ca ngợi sự vinh quang của Bác, muốn làm đóa hoa để tỏa hương khoe sắc bên lăng Bác, muốn làm cây tre đe gìn giừ quanh lăng…

Đặc biệt, cách dùng hình ảnh “cây tre trung hiếu” như khẳng định một lời thề hứa sắt son, sẽ sống sao cho xứng đáng với công ơn của Bác, xứng đáng với dân tộc, thể hiện ước nguyện đi tiếp con đường cách mạng mà Bác đã vạch ra, đó là cống hiến, phục vụ cho quê hương đất nước.. Ước nguyện đó thể hiện tình cảm thành kính, thiêng liêng của nhà thơ, một người con Nam Bộ, nhưng đó cũng là tình cảm của nhân dân miền Nam, của dân tộc Việt Nam đối với Bác.

Hình ảnh cây tre có tính chất tượng trưng một lần nữa nhắc lại khiến bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng. Hình ảnh hàng tre quanh lăng Bác được lặp ở câu thơ cuối như mang thêm nghĩa mới, tạo ấn tượng sâu sắc, làm dòng cảm xúc được trọn vẹn. “Cây tre trung hiếu” là hình ảnh ẩn dụ thể hiện lòng kính yêu, sự trung thành vô hạn với Bác, nguyện mãi mãi đi theo con đường cách mạng mà Người đã đưa đường chỉ lối. Đó là lời hứa thủy chung của riêng nhà thơ và cũng là ý nguyện của đồng miền Nam, của mỗi chúng ta nói chung với Bác.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh hàng tre, kết thúc bài thơ, tác giả đà trở lại với cây tre “trung hiếu” như một lời hứa, một tâm nguyện của con dân Việt Nam trước vị lành tụ kính yêu của minh. Cách lặp lại như vậy tạo cho bài thơ cỏ kết cẩu đẩu .cuối tương ứng, nhằm tô đậm thêm hình ảnh gây ấn tượng và mạch cảm xúc cùng được trọn vẹn.

Với thể thơ tự do, bố cục tự nhiên, đơn giàn theo diễn biến cảm xúc và suy nghĩ; giọng thơ trang nghiêm sâu lắng pha lẫn niềm xót xa tự hào; những hình ảnh thơ độc đáo, kết hợp hình ảnh thực, hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng; nhà thơ Viễn Phương đã thể hiện những xúc động tràn đầy và lớn lao khi viếng lăng Bác, những suy ngẫm sâu sắc về Bác cũng như những tình cảm thành kính dành cho Bác.

  • Kết bài:

Bài thơ kết thúc, nhưng âm vang hai tiếng Bác Hồ và tấm lòng xót thương của muôn vạn con người Việt Nam vẫn còn ray rứt. Nhà thơ Viễn Phương đã thay mặt triệu người dân miền Nam nói lời muốn nói với Bác Hồ kính yêu, đồng thời tự nhắc nhở mình phải sống xứng đáng với Bác Hồ, với dân tộc, ra sức bảo vệ nền đọc lập còn non trẻ và kiến thiết đất nước.

Bình luận: