Chuyện người con gái Nam Xương là bài ca ca ngợi và đề cao những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ

chuyen-nguoi-con-gai-nam-xuong-la-bai-ca-ca-ngoi-va-de-cao-pham-chat-tot-dep-cua-nguoi-phu-nu
  • Mở bài:

Chuyện người con gái Nam Xương là một thiên tuyệt bút mà Nguyễn Dữ đã kì công kí thác nhiều suy nghĩ. Thông qua cuộc đời và số phận bi thảm của nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ thể hiện sự trân trọng, cảm thương và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Với những phẩm chất của mình, họ xứng đáng có được một cuộc đời êm đẹp và hạnh phúc. Thế nhưng, ngược lại, họ bị phủ nhận và gánh chịu số phận đầy khổ đau và tủi nhục.

  • Thân bài:

Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ đời sống và tính cách nhân vật. Ngay từ đâu, nàng đã được giới thiệu là “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Chàng Trương cũng bởi mến cái dung hạnh ấy, nên mới xin với mẹ trăm lạng vàng cưới về làm vợ. Sống với gia đình chồng, Vũ Nương tỏ ra hết sức chu toàn.

Trong cuộc sống vợ chồng bình thường, hiểu rõ tính chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép. Cho nên, dù chồng nàng đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức nhưng gia đình chưa từng phải bất hòa. Cái nết ấy quả là trời phú cho nàng. Nó hứa hẹn một cuộc đời ấm êm trong tình yêu thương và chia sẻ.

Thế nhưng, biến cố lại xảy đến. Chính biến cố lại phát huy cái nết hiếu thuận và thủy chung của Vũ Nương. Quân giặc hung dữ quấy nhiễu biên cương. Trương Sinh dù là con một nhưng cũng bị ghi tên đi lính. Mẹ Trương Sinh đã hết sức lo chạy nhưng không được.

Khi tiễn chồng đi, Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng những lời tình nghĩa đằm thắm. Nàng “chẳng dám mong” vinh hiển mà chỉ cầu cho chồng “khi về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Đối với nàng, hạnh phúc gia đình mới là cái đáng gìn giữ. Đó cũng là niềm mong ước của biết bao người phụ nữ xưa nay.

Vũ Nương cũng thông cảm cho những nỗi gian lao, vất vả mà chồng sẽ phải chịu đựng. Và xúc động nhất là những lời tâm tình về nỗi nhớ nhung, trông chờ khắc khoải của mình khi xa chồng. Những lời văn từng nhịp, từng nhịp biền ngẫu như nhịp đập trái tim nàng – trái tim của người vợ trẻ khát khao yêu thương đang thổn thức lo âu cho chồng. Những lời đó thấm vào lòng người, khiến ai cũng xúc động ứa hai hàng lệ.

Rồi đến khi xa chồng, nàng chứng tỏ và bộc lộ nhiều phẩm chất đáng quý. Trước hết, nàng là người vợ hết mực chung thủy với chồng. Nỗi buồn nhớ chồng vò võ, kéo dài qua năm tháng. Mỗi khi thấy “bướm lượn đầu vườn” cảnh vui mùa xuân hay “mây che kín núi” cảnh buồn mùa đông, nàng chặn lại “nỗi buồn góc bể chân trời nhớ người đi xa”. Đó là đức thủy chung, son sắt, một lòng trung trinh của người phụ nữ trong cảnh chiến chinh.

Đồng thời, nàng là người mẹ hiền, hết lòng nuôi dạy, chăm sóc. Để bù đắp cho đứa con nhỏ sự thiếu vắng tình cha, nàng lấy chiếc bóng của mình trên tường và nói với con đó là cha để con tin tưởng, vững tâm.

Đối với mẹ chồng, Vũ Nương còn bộc lộ đức tính hiếu thảo của người con dâu. Nàng tận tình chăm sóc mẹ chồng già yếu. Khi mẹ ốm đau, nàng lo chạy chữa thuốc thang cho mẹ qua khỏi, thành tâm lễ bái phần phật. Sọ mẹ buồn lòng vì con trai ở xa, ngày đêm nàng lúc nào cũng dịu dàng, “lấy lời ngọt ngào khôn khéo, khuyên lơn”.

Tấm lòng hiếu thuận, đảm đang của Vũ nương khiến cho hàng xóm ai ai cũng mến phục, ngợi khen. Lời trăn trối cuối cùng của bà mẹ chồng đã đánh giá công lao của Vũ Nương đối với gia đình: “xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

Thông thường, nhất là trong xã hội cũ, mối quan hệ mẹ chồng con dâu là mối quan hệ căng thẳng, phức tạp. Nhưng trước người con dâu hết mực hiền thảo như Vũ Nương thì bà mẹ Trương Sinh không thể không yêu mến. Khi bà mất, Vũ Nương đã “hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”. Có thể nói, cuộc đời Vũ Nương tuy ngắn ngủi nhưng nàng đã làm tròn bổn phận của người phụ nữ: Một người vợ thủy chung, một người mẹ thương con, một người dâu hiếu thảo. Ở bất kỳ một cương vị nào, nàng cũng làm rất hoàn hảo.

Thế nhưng, tấm lòng nhân nghĩa, thủy chung, hiếu thuận ấy lại không được Trương Sinh thấu hiểu và trân trọng. Hai năm sau, giặc dữ quy hàng, Trương Sinh trở về mang theo nhiều hoài nghi trong lòng. Chỉ vì lời nói vu vơ của con trẻ mà cho rằng nàng ở nhà đã thất tiết. Sự vô tình và tàn bạo của chồng đã khiến cho Vũ Nương vô cùng đau khổ và tủi nhục. Khi bị chồng nghi oan, nàng đã tìm mọi cách xóa bỏ ngờ vực trong lòng Trương Sinh

Ở lời nói đầu tiên, nàng nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng chung thủy trong trắng của mình. Cầu xin chồng đừng nghi oan, nghãi là nàng đã cố gắng hàn gắn, cứu vãn hạnh phúc sgia đình đang có nguy cơ tan vỡ.

Ở lời nói thứ hai trong tâm trăng “bất đắc dĩ”, Vũ Nương bày tỏ nỗi thất vọng khi không hiểu vì sao bị đói xử tàn nhẫn, bất công, không có quyền tự bảo vệ mình. Thậm chí không có quyền được bảo vệ bởi những lời biên bạch, thanh minh của hàng xóm, láng giềng. Người phụ nữ của gia đình đã mất đi hạnh phúc gia đình, “thú vui nghi gia nghi thất”.

Tình cảm đơn chiếc thủy chung nàng dành cho chồng đã bị phũ nhận không thương tiếc. Giờ đây, “bình trâm rơi gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồn xa”, cả nỗi nhớ chồng mà hóa đá trước đây cũng không còn. Vậy thì cuộc đời còn gì ý nghĩa nữa đối với người vợ trẻ khoa khát yêu thương ấy?

Chẳng còn gì cả, chỉ còn nỗi thất vọng tột cùng, đau đớn ê chề bởi cuộc hôn nhân đã không còn cách nào hàn gắn nỗi, mà nàng thì phải chịu nỗ oan khuất tày trờ. Bị dồn đến bước đường cùng, sau mọi cố gắng không thành, Vũ Nương chỉ còn biết mượn dòng nước Hoàng Giang đễ rửa nỗi oan nhục. Nàng đã tắm gội chay sạch mong dòng nước mát làm dịu đi tức giận trong lòng, khiến nàng suy nghĩ tỉnh táo hơn để không hành động bồng bột.

Thế nhưng, dẫu biết cái chết là sai lầm, nàng vẫn không thay đổi quyết định ban đầu, bởi chẳng còn con đường nào khác cho người phụ nữ bất hạnh này. Lời than của nàng trước trời cao sông thẳm là lời nguyện xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất cũng như đức hạnh của nàng. Hành động trầm mình là hành động quyết liệt cuối cùng, chấm dứt nỗi tuyệt vọng đắng cay nhưng cũng đi theo sự chỉ đạo của lý trí.

Được Linh Phi cứu giúp, nàng sống dưới thủy cung và được đối xử tình nghĩa. Nàng hết sức cảm kích ơn cứu mạng của Linh Phi và các tiên nữ cung nước. Nhưng nàng vẫn không nguôi nỗi nhớ cuộc sống trần thế – cuộc sống nghiệt ngã đẩy nàng đến cái chết.

Vũ Nương vẫn là người vợ yêu chồng, người mẹ thương con, vẫn nặng lòng nhung nhớ quê hương, mộ phần cha mẹ, đồng thời vẫn khao khát được trả lại danh dự. Bởi vậy mà nàng đã hiện về khi Trương Sinh lập đàn giải oan. Thế nhưng “cảm ơn đức cua Linh Phi, đã thề sống chết không  bỏ”, Vũ Nương không quay trở về trần gian nữa.

Vũ Nương là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục lại đảm đang, tháo vát, thờ kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một dạ thủy chung với chồng, hết lòng vun đắp cho hạnh phúc gia đình. Nàng là người phụ nữ hoàn hảo, lý tưởng của mọi gia đình, là khuôn vàng thước ngọc của mọi người phụ nữ. Người như nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà lại phải chết oan uổng, đau đớn.

Tuy có những phẩm chất tâm hồn đáng quý nhưng Vũ Nương đã phải chịu một số phận cay đắng, oan nghiệt. Nghịch lí ấy tự nó đã là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến bất công, phi lí đương thời  đã chà đạp lên nhân cách, nhân phẩm, hạnh phúc của con người, đẩy con người vào bước đường cùng không lối thoát.

  • Kết bài:

Xây dựng hình tượng Vũ Nương, một mặt nhà văn ngợi ca những phẩm chất tâm hồn đáng quý của người phụ nữ, mặt khác thể hiện thái độ cảm thông thương xót cho số phận bất hạnh của họvà cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí đã chà đạp, rẻ rúng con người, đặc biệt là đối với người phụ nữ trong xã hội. Có lẽ chưa cần nhiều, chỉ cần khai thác chân dung Vũ Nương đã đủ thấy chiều sâu hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nguyễn Dữ.

theo https://duongleteach.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.