Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy là lời cảnh tỉnh con người không được lãng quên quá khứ nghĩa tình, thủy chung

Anh-trang-cua-nguyen-duy-la-loi-canh-tinh-con-nguoi-ve-qua-khu-nghia-tinh-thuy-chung
  • Mở bài:

Nguyễn Duy được xem là một trong những gương mặt tiêu biểu cho thế hệ những nhà thơ trẻ trưởng thành trong giai đoạn thơ ca kháng chiến chống Mĩ. Thơ Nguyễn Duy vừa mộc mạc gần gũi, vừa có tính chiều sâu tư tưởng, nó nói lên những băn khoăn trăn trở của nhà thơ trước cuộc đời vốn nhiều biến đống, đổi thay. Bài thơ Ánh trăng được Nguyễn Duy viết vào năm 1978, ba năm sau khi đất nước sạch bóng quân thù. Toàn bài thơ là những hoài niệm đẹp đẽ về những năm tháng đã qua và là lời nói tự cảnh tỉnh chính mình về lẽ sống ân nghĩa, thuỷ chung cao đẹp trong cuộc đời của mỗi con người.

  • Thân bài:

Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian, trong đó ánh trăng là hình tượng xuyên suốt, giàu ý nghĩa biểu tượng. Ánh trăng không chỉ là tiếng lòng, là những suy ngẫm riêng tư của Nguyễn Duy mà là của cả một lớp người, một thế hệ đang tự cảnh tình, tự nhắc nhở mình về lối sống ân nghĩa thuỷ chung đối với quá khứ của dân tộc.

Mở đầu bài thơ là những hồi ức, hoài niệm đẹp đẽ của tác giả về những năm tháng tuổi thơ bên đồng quê ngập tràn ánh trăng, những năm tháng sống ở chiến trường nơi núi rừng hoang vắng, bóng trăng soi vằng vặc trên đầu núi:

Hồi nhỏ sống với đồng
Với sông rồi với bể
Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ

Không gian sống của tuổi thơ là “đồng”, là “sông”, là “bể”, là một không gian làng quê êm ả, thanh bình. Không gian ấy đã nuôi lớn tâm hồn của con người gắn liền với những năm tháng hồn nhiên, những kỉ niệm êm đềm bên cạnh những người thân yêu ruột thịt. Không gian ấy rất đỗi thiêng liêng, nên thơ và tuyệt đẹp. Nó trở đi trở lại trong thơ của Nguyễn Duy bằng những hình ảnh vô cùng mộc mạc bình dị, đặc trưng cho làng quê Việt Nam. Hình ảnh dòng sông, con đò, cây đa, bến nước, đồng ruộng mênh mông, biển khơi xa thẳm, sung chát đào chua, cánh cò, câu ca mẹ hát là nguồn sống cuộn trào trong kí ức không bao giờ mờ phai

Trong không gian ấy, vầng vầng trăng hiện hữu lung linh mờ tỏ. Đối với tuổi thơ, vầng trăng trên cao vẫn là cái gì đó xa xôi vời vợi. Mãi đến khi trở thành một người lính cầm súng xa nhà đi chiến đấu ở núi rừng hoang vu, quạnh vắng thì lúc ấy vầng trăng mới trở nên gắn bó, đi vào tâm hồn người chiến sĩ.

Trăng trở thành người bạn chia sẻ với con người những buồn vui, gian khổ đời lính. Ánh trăng lung linh mờ ảo bàng bạc cả không gian. Ánh trăng nên thơ tuyệt đẹp giúp con người quên đi những nhọc nhằn, vất vả sau một ngày hành quân gian khổ, giúp con người không cảm thấy trống trải, buồn bã, cô đơn giữa núi rừng heo hút. Ánh trăng làm vơi đi nỗi nhớ quê nhà bởi trong lòng người chiến sĩ vầng trăng sẻ chia.

Trăng ở núi rừng hay trăng ở quê nhà thì cũng chỉ là một vầng trăng ấy mà thôi. Con người nhìn vầng trăng mà nguôi ngoai thương nhớ. Và không biết tự bao giờ trăng trở thành người bạn tri âm tri kỉ, gắn bó với con người. Từ “hồi” lặp đi lặp lại hai lần nhấn mạnh hai giai đoạn từ thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành của con người với biết bao thăng trầm biến động.

Vầng trăng đã gắn bó thân thiết với con người từ lúc nhỏ đến lúc trưởng thành, cả trong hạnh phúc và gian lao. Trăng là vẻ đẹp của đất nước bình dị, hồn hậu; của thiên nhiên vĩnh hằng, tươi mát, thơ mộng. Vầng trăng không những trở thành người bạn tri kỉ, mà đã trở thành “vầng trăng tình nghĩa” biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung:

Trần trụi với thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa.

Từ láy “trần trụi” gợi lên một cách sống mộc mạc, chân chất, bình dị, gần gũi gắn bó với thiên nhiên. Tâm hồn vô tư, “hồn nhiên như cây cỏ” chân chất, thiệt thà, không tính toan vụ lợi. Với những năm tháng sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên biết bao nghĩa tình cùng tâm hồn thuỷ chung, trong sáng, hồn hậu của một con người gắn bó với đồng, với sông, với bể, thi sĩ đã từng “ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa” ấy. Cái vầng trăng đã một thời gắn bó sẻ chia những buồn vui gian khổ, cái vầng trăng đã đánh thức trong con người những rung động, những xúc cảm trước cái đẹp, trước cái chân – thiện – mĩ hiện hữu diệu kì.

Nhưng rồi thơi gian trôi qua, cuộc sống đổi thay, chiến tranh lùi xa vào dĩ vãng, con người từ giã núi rừng trở về thành phố, vết thương khít lại, con người bắt đầu đổi thay:

Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường.

Cuộc sống đã khác nhiều, không còn là nơi núi rừng hoang vu quạnh vắng với cuộc sống gian khổ, khó khăn, thiếu thốn mà là thành phố rực rỡ ánh đèn với nhà cao cửa rộng, đầy đủ những tiện nghi vật chất. Con người đã quen rồi với “ánh điện, cửa gương” nơi phồn hoa đô hội và như Tố Hữu đã từng bâng khuân:

Phố đông còn nhớ bản làng
Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng.

Cho nên không biết tự lúc nào và tự bao giờ, con người trở nên vô tình, vô cảm:

Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường

Vầng trăng vẫn hiện hữu, vẫn mỗi ngày và mỗi đêm lung linh toả sáng. Còn con người dường như dửng dưng, vô tình không hay biết. Trăng vẫn đẹp, vẫn nên thơ và toả rạng rạn trên bầu trời còn con người thì hờ hững không đoái hoài đến.

Phép đối giữa hai khổ thơ giữa một bên là “cái vầng trăng tình nghĩa” một thời gắn bó, ơn sâu nghĩa nặng đối lập với vầng trăng hoàn toàn xa lạ “như người dưng qua đường”. Từ đó, tác giả muốn nói lên cái vô tâm, bạc bẽo của lòng người, dễ dàng quên lãng những tháng năm gắn bó đã qua.

Hình ảnh nhân hoá “vầng trăng đi qua ngõ” làm cho thiên nhiên trở nên vô cùng gần gũi. Ánh trăng như chủ động âm thầm, lặng lẽ dõi theo và tìm cách gặp gỡ người bạn năm cũ. Ta tự hỏi đã bao lần vầng trăng đi qua ngõ để được gặp gỡ, hội ngộ cùng người nhưng con người thì vẫn khép chặt khung cửa, dửng dưng không hay biết. Song, cuộc đời với những bất ngờ không báo trước, một sự cố xảy đến và trong phút giây con người hội ngộ với vầng trăng xưa cũ:

Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn.

Đèn điện tắt, căn phòng tối om, ngột ngạt, bức bối, con người “vội bật tung cửa sổ” với mong muốn thoát khỏi cái vùng tối của không gian đang vây bủa chính mình. Đột ngột vầng trăng tròn xuất hiện. Từ láy “đột ngột” miêu tả sự việc vầng trăng xuất hiện một cách bất ngờ, thình lình, nhanh chóng khiến cho con người cũng cảm thấy bàng hoàng, ngỡ ngàng. Sự xuất hiện bất ngờ của vầng trăng khiến nhà thơ ngỡ ngàng, bối rối, gợi cho nhà thơ bao kỉ niệm, nghĩa tình.

Sau phút bàng hoàng vì bất ngờ ấy là cả một nỗi niềm xót xa, xúc động dâng trào mãnh liệt trong tâm hồn tác giả khi đối diện với vầng trăng tròn, khi cả một quá khứ xa xưa chợt hiện về trong kí ức:

Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rưng rưng
Như là đồng là bể
Như là sông là rừng

Mặt đối mặt, con người đối diện với vầng trăng với người bạn xưa cũ, với những năm tháng tươi đẹp đã qua hay cũng là đối diện với chính lòng mình, với con người của những tháng ngày xưa cũ, những năm tháng đạn bom ác liệt đầy mất mát, đau thương nhưng thấm đượm nghĩa tình đồng đội, đồng chí.

Từ láy “rưng rưng” gợi lên trạng thái cảm xúc vô cùng xúc động của nhà thơ khi cả một quá khứ xa xưa chợt hiện về trong tâm trí. Điệp từ “như là” lặp đi lặp lại 2 lần diễn tả một cách tinh tế tâm trạng của một con người đang thả lòng mình trong quá khứ xa xưa. Đây cánh đồng, đây dòng sông, đây bể khơi mênh mông xa thẳm của những năm tháng tuổi thơ. Đây là núi rừng của những năm đánh giặc. Tất cả, tất cả như sống dậy và vẫn vẹn nguyên trong trái tim, trong nỗi nhớ của người chiến sĩ.

Cấu trúc song hành của hai câu thơ kết hợp với nhịp điệu thơ dồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ, nhân hoá và liệt kê như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị và đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc, chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”, đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc.

Nói sao hết nỗi mừng vui xúc động pha cả sự xót xa ngậm ngùi, ân hận của một con người đã bấy lâu nay sống vô tâm, hờ hững, lãng quên quá khữ, bạn bè, đồng đội thì nay tìm lại được chính mình, tìm lại được những gì mà một thời mình đã từng coi là thiêng liêng cao đẹp, là suốt đời “ngỡ không bao giờ quên”. Trong giây phút được sống lại những năm tháng tươi đẹp của quá khứ xa xưa, thấy được sự vô tâm hờ hững, sự đổi thay của chính mình thì cũng là lúc con người nhận ra:

Trăng cứ tròn vành vạch
Kể chi người vô tình
Ánh trắng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình

“Trăng cứ tròn vành vạch” vẫn đẹp một cách viên mãn tròn đầy, vẫn ngày ngày âm thầm lặng lẽ toả sáng, làm đẹp cuộc đời mặc cho con người cứ “vô tình” hờ hững. “Ánh trăng im phăng phắc” là hình ảnh nhân hoá khiến cho ánh trăng giống như một con người bao dung, độ lượng không hề hờn dỗi trách móc trước sự đổi thay của lòng dạ con người.

Sự im lặng mạnh mẽ ấy đủ sức thức tỉnh lương tâm con người vốn đã ngập ngụa trong đời sống tiện nghi. Nó đủ khiến con người giật mình nhận ra sự thay đổi của bản thân mình, mình đã đánh mất chính mình, đánh mất những gì tốt đẹp trong con người mình mà mình không hề hay biết. Mình đã quên đi thiên nhiên tươi đẹp, quên đi quá khữ nghĩa tình. Mình đã để cho những bộn bề, lo toan của cuộc sống nơi chốn thành phố xa hoa rực rỡ, nhà cao cửa rộng nó lôi kéo làm cho mình mờ mắt chìm đắm nên không còn nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên, của hiện hữu nhiệm màu. Mình chỉ sống ở hiện tại mà hoàn toàn quên lãng quá khứ, quên đi những an nghĩa, những gì tốt đẹp đã qua. Giật mình để thức tỉnh, để sửa đổi, làm con người mình trở nên tốt đẹp hơn.

Bài thơ có sự kết hợp hài hoà giữa tự sự và trữ tình; giọng thơ tâm tình, suy tư trầm lắng; ngôn ngữ thơ giàu tính triết lí. Nhà thơ đã rất thành công hình tượng ánh trăng, hình tượng thơ đa nghĩa tượng trưng cho cái đẹp của thiện nhiên, của sự sống, sự thanh cao trong sáng thuần khiết, vẻ đẹp tâm hồn của con người; quá khứ tươi đẹp, những năm tháng chiến tranh gian khổ thắm đượm nghĩa tình đồng đội đồi chí, tình quân dân cá nước.

Bài thơ cất lên như một lời cảnh tỉnh, nhắc nhở chân thành, không chỉ có ý nghĩa đối với một lớp người, một thế hệ vừa đi qua chiến tranh mà còn có ý nghĩa đối với nhiều người vì nó đặt ra một vấn đề đó là thái độ đối với quá khứ, với những người đã khuất và với cả chính mình: Đừng bao giờ lãng quên quá khứ, hãy trân trọng nghĩa tình của quê hương đất nước, đừng đánh mất những điều tốt đẹp trong con người mình chỉ vì cuộc sống kim tiền xa hoa, phù phiếm

  • Kết bài

Ánh trăng là bài thơ hay, khơi gợi những suy nghĩ về đạo lí, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” đẹp đẽ của dân tộc. Ánh trăng thật sự là một tấm gương soi để ta thấy được con người thật của mình, để tìm lại cái đẹp tinh khôi của tâm hồn mình mà đôi khi ta đã đánh mất mà không hề hay biết.

MỘT SỐ CÂU HỎI ÔN TẬP LUYỆN THI:

Ý nghĩa nhan đề Ánh trăng:

Trăng vốn là đề tài quen thuộc, là một quý ngữ trong thi ca. Với bài thơ Ánh trăng, Nguyễn Duy đã làm phong phú và giàu có thêm vẻ đẹp cũng như ý nghĩa của vầng trăng đã quen thuộc từ ngàn đời.

Trước hết, Ánh trăng của Nguyễn Duy là hình ảnh đẹp của thiên nhiên với tất cả những gì là thi vị, gần gũi, hồn nhiên, tươi mát. Ánh trăng gần với tuổi ấu thơ của tác giả. Vầng trăng ấy hồn nhiên như cuộc sống, như đất trời.

Vầng trăng còn là một biểu tượng nghệ thuật đa nghĩa. Vầng trăng ấy đã đánh thức ký ức của tác giả, của thế hệ trẻ Việt Nam trong những ngày đánh Mỹ, tháng Mỹ.

Ánh trăng lặng lẽ toả sáng trong bài thơ hay lặng lẽ như lời nhắc nhở giản dị mà sâu lắng, không được phép lãng quên quá khứ, có những thử thách, những hy sinh, những tôn thất thời đánh Mỹ ác liệt mới có cuộc sống hoà bình ngày hôm nay.

Hình ảnh vầng trăng và cảm xúc của nhà thơ Nguyễn Duy qua bài thơ “Ánh Trăng”.

 Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ là một hình tượng đa nghĩa.

+ Trước hết, vầng trăng là một hình ảnh của thiên nhiên khoáng đạt, hồn nhiên, tươi mát. Trong hai khổ thơ đầu, vầng trăng hiện ra trong không gian của ruộng đồng, sông biển, núi rừng. Đó là vầng trăng của “hồi nhỏ sống với đồng” và sau này là “hồi chiến tranh ở rừng”. Lúc ấy, con người sống giản dị, “trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ”. Vầng trăng trở thành người bạn tri kỷ, thành “vầng trăng tình nghĩa” gắn bó trong suốt những năm tháng từ thuở ấu thơ ở quê nhà, đến hồi chiến tranh sống ở rừng.

+ Đến khi về thành phố, sống giữa những tiện nghi hiện đại “quen ảnh điện, cửa gương”, con người bỗng quên đi cái vầng trăng “ngỡ không bao giờ quên” kia, bỗng vô tình với “cái vầng trăng tình nghĩa” kia. Sự vô tình đến mức tàn nhẫn:

“Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường”

Rồi đến một đêm nào đó:

“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”

Con người đã quen với đèn điện nên quên trăng. Vầng trăng vẫn có đó nhưng “như người dưng qua đường”. Phải đến khi đèn điện tắt, con người mới lại nhìn thấy và nhận ra vầng trăng. Phải đột ngột như thế. Phải bất ngờ như thế, vầng trăng mới làm thức dậy trong tâm trí con người bao cảm xúc:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rưng rưng
Như là đồng là bể
Như là sông là rừng”

“Ngửa mặt lên nhìn mặt”, mặt người và mặt trăng đối diện nhau. Đó là khoảnh khắc bất ngờ gặp lại “cố nhân”. Khoảnh khắc gặp gỡ đó khiến hồn người “rưng rưng” cảm xúc. Vầng trăng làm ùa dậy trong tâm trí những hình ảnh của thiên nhiên, của quê hương đất nước.

+ Vầng trăng trong bài thơ còn có ý nghĩa biểu tượng: biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, biểu tượng cho vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của đời sống.

Vầng trăng đâu chỉ làm ùa dậy trong tâm trí những hình ảnh của thiên nhiên, của quê hương đất nước, mà còn đánh thức trong tâm trí con người bao kỷ niệm hồn nhiên của thời tuổi nhỏ, bao kỷ niệm nghĩa tình của một thời gian lao chiến đấu.

Khổ thơ cuối cùng là nơi tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng:

“Trăng cứ tròn vành vạnh
Kẻ chi người vô tình
Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình.”

Mặc cho con người vô tình, “trăng cứ tròn vành vạnh”. Đó là hình ảnh tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. “Ánh trăng im phăng phắc”, phép nhân hoá khiến hình ảnh vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể, một người bạn, một nhân chứng, rất nghĩa tình nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc đang nhắc nhở con người đừng quên đi quá khứ. “Ánh trăng im phăng phắc” nhưng đủ làm để làm con người “giật mình” nhận ra sự vô tình không nên có, sự lãng quên đáng trách của mình. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên, nhưng thiên nhiên và nghĩa tình quá khứ thì vẫn nguyên vẹn, vĩnh hằng.

Phân tích 2 khổ thơ cuối của bài thơ “Ánh trăng”

– Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ: sự cố thành phố cúp điện, nơi sống chìm vào bóng tối. Con người và vầng trăng đối diện trong khoảnh khắc bất thường khiến cho cảm xúc bị dồn nén tột cùng:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng”

Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn. Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỷ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc – dùng những từ không trực tiếp để diễn tả sự xúc động cảm động chợt dâng trào trong lòng anh khi gặp lại vầng trăng.

– Cảm xúc “rưng rưng”: tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi nhớ gợi thương. Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao.

– Sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy ở tâm trí nhà thơ bao kỷ niệm quá khứ tốt đẹp khi cuộc sống còn quá nghèo nàn, gian lao. Lúc ấy con người với thiên nhiên trăng là tri kỷ, tình nghĩa.
Khổ thơ kết lại bài thơ bằng hai vế đối lập mà song song:

“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”

– Ở đây có sự đối lập giữa “tròn vành vạnh” và “kẻ vô tình”, giữa cái im lặng của ánh trăng với sự “giật mình” thức tỉnh của con người. Vầng trăng có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Hình ảnh “vầng trăng tròn vành vạnh”, ngoài nghĩa đen là vẻ đẹp tự nó và mãi mãi vĩnh hằng của cuộc sống còn có nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp của nghĩa tình quá khứ, đầy đặn, thuỷ chung, nhân hậu bao dung của thiên nhiên, của cuộc đời, con người, nhân dân, đất nước.

– Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” có ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. Sự không vui, sự trách móc trong lặng im của vầng trăng là sự tự vấn lương tâm dẫn đến cái “giật mình” ở câu thơ cuối. Cái “giật mình” là cảm giác và phản xạ tâm lý có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình.

– Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên. Thiên nhiên thật nghiêm khắc, lạnh lùng nhưng cũng thật ân tình, độ lượng bao dung, vầng trăng và thiên nhiên là trường tồn, bất diệt. Thì ra những bài học sâu sắc về đạo lý làm người đâu cứ phải tìm trong sách vở hay từ những khái niệm trừu tượng xa xôi. Ánh trăng thật sự đã như một tấm gương soi để thấy được gương mặt thực của mình, để tìm lại cái đẹp tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ ngon trong quên lãng.

Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ tượng trưng cho điều gì?

– Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ trước hết là vầng trăng của tự nhiên. Nhưng vầng trăng còn là biểu tượng của quá khứ đầy tình cảm, khi con người trần trụi giữa thiên nhiên, hồn nhiên, không so đo, tính toán. Khi đó, tâm hồn con người rộng mở, khoáng đạt như sông, như đồng, như bể như rừng.

– Tất cả là những hình ảnh thiên nhiên rộng dãi, hùng vĩ. Nhưng khi kháng chiến thành công thì con người nhốt mình vào cửa kính, buyn – đinh, sống riêng cho mình, cho cái cá nhân nhỏ bé. Bởi thế mà không gần gũi, không mặn mà với vầng trăng. Lúc này trăng tượng trưng cho quá khứ ân tình, cho những tình cảm lớn lao mộc mạc nhưng bất tử, sáng trong mãi mãi.

– Con người có thể quên quá khứ, nhưng quá khứ không bao giờ quên. Trăng cứ tròn vành vạnh cũng như quá khứ tươi đẹp không bao giờ mờ phai, không bao giờ khuyết thiếu. Chỉ có những ai mê mải với cái riêng mới có thể dửng dưng. Nhưng vầng trăng ấy bao dung, không “kể chi người vô tình”. Chính thái độ lặng im cao thượng ấy càng làm những ai sớm quên quá khứ nghĩa tình phải giật mình.

Ý nghĩa bài thơ Ánh trăng

Bài thơ “Ánh trăng” là tâm sự của Nguyễn Duy, là suy ngẫm của nhà thơ trước sự đổi thay của hoàn cảnh sống, khi mà con người từ chiến tranh trở về cuộc sống hoà bình. Những sông, đồng, biển, rừng là hình ảnh tượng trưng, nhưng cũng là hình ảnh thật của những người kháng chiến. THành phố là môi trường mới, là hình ảnh thật của những người kháng chiến không đặt chân tới (trừ các chiến sĩ hoạt động bí mật). Môi trường mới ???nghỉ mới, hoàn cảnh mới làm cho con người sống cách biệt với thiên nhiên cũng có nghĩa là xa dần quá khứ, lạnh nhạt dần với quá khứ. Ánh trăng cảnh bao hiện tượng suy thoái về tình cảm, sẽ dẫn đến suy thoái lối sống, suy thoái đạo đức. Nó nhắc nhở con người cần thuỷ chung với quá khứ, với những điều tốt đẹp của quá khứ, đừng (có mới nới cũ).

Cảm nhận ý nghĩa khổ cuối bài thơ “Ánh trăng”

Khổ thơ cuối cùng là nơi tập trung nhất ý nghĩa – biểu tượng của hình ảnh vầng trăng:

Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi người vô tình
Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình

– Mặc cho con người vô tình, “trăng cứ tròn vành vạnh”, đó là vẻ đẹp tự nó và mãi mãi vĩnh hằng. Đó còn là hình ảnh tượng trưmg cho vẻ đẹp và những giá trị truyền thống.

– “Ánh trăng im phăng phắc” => phép nhân hoá khiến hình ảnh vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể, một người bạn, một nhân chứng, rất nghĩa tình nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc đang nhắc nhở con người. “Ánh trăng im phăng phắc” nhưng đủ làm để làm con người “giật mình” nhận ra sự vô tình lãng quên quá khứ tốt đẹp, tức là con người đang phản bội lại chính mình. Nó còn có ý nhắc nhở con người nên trân trọng, giữ gìn vẻ đẹp và những giá trị truyền thống.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.